Truy cập

Hôm nay:
36
Hôm qua:
26
Tuần này:
91
Tháng này:
829
Tất cả:
85198

LỜI NÓI ĐẦU

Thọ Hải là một xã ở vùng trung trung tâm của huyện Thọ Xuân; trước cách mạng tháng Tám xã gồm có 6 thôn: Vùng ngoại đê: thôn Hải Khoát, thôn Mậu Công, và làng Rạch. Nội đê: thôn Phấn Thôn, thôn Công Thành và thôn Hưng Nhượng.

Từ thuở xa xưa, các thế hệ người dân Thọ Hải đã đến đây mở đất, lập làng, trải qua bao gian lao vất vả đấu tranh chống chọi với thiên tai, giặc ngoại xâm để tồn tại và phát triển. Chính vì, vậy mà tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của người dân đã được hun đúc, Thọ Hải đã sản sinh cho đất nước nhiều người con tiêu biểu như: Lê Văn Linh, Lê Đình Ngang, Lê Liệt, Lê Dũng Liêm, Lê Hoàng Đạt… là những người con tiêu biểu trong khởi nghĩa Lam Sơn.

Thọ Hải có nhiều dòng họ tiêu biểu trong chống giặc ngoại sâm như: dòng họ Mậu Công, dòng họ Công Thành cùng với anh hùng dân tộc Lê Lợi đứng lên khởi nghĩa chống quân Minh… năm 1858, thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, có nhiều người con của Thọ Hải đã tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân trong xã đã đoàn kết một lòng, sáng tạo trong lao động, anh dũng trong chiến đấu, tích cực tham gia cùng quân và dân cả nước tiến hành cuộc cách mạng giành, giữ, xây dựng chính quyền và các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, ghi thêm những trang sử vẻ vang vào truyền thống quê hương. Cùng với truyền thống cách mạng của dân tộc, Đảng bộ xã Thành Trực được thành lập đã đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ, khẳng định vai trò to lớn, hạt nhân lãnh đạo của phong trào cách mạng xã nhà.

Với truyền thống cách mạng vẻ vang, quá khứ hào hùng, để đáp ứng tâm tư nguyện vọng của đông đảo nhân dân và cán bộ, đảng viên trong xã, Ban Chấp hành Đảng bộ xã đã ra Nghị quyết về sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử xã Thọ Hải.  Sau một thời gian tiến hành sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, đến nay cuốn “Lịch sử xã  Thọ Hải” đã hoàn thành và ra mắt bạn đọc. Đây là trách nhiệm, tình cảm với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của nhân dân Thọ Hải đối với các thế hệ cha anh đi trước, đồng thời là nguồn cổ vũ lớn lao, góp phần khơi dậy niềm tự hào, lòng tin yêu và phát huy truyền thống cách mạng trong công cuộc đổi mới ngày nay. Cuốn sách cũng là tư liệu qúy báu giúp các thế hệ con em xã Thọ Hải đang sinh sống, học tập và công tác trên quê hương hay khắp mọi miền Tổ quốc và ở cả nước ngoài hiểu thêm mảnh đất, con người Thọ Hải, từ đó một lòng hướng vê quê hương yêu dấu.

Cuốn sách được ra mắt bạn đọc là nhờ sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ, là sự cố gắng không mệt mỏi và tinh thần trách nhiệm của Ban sưu tầm, biên soạn cũng như sự ủng hộ nhiệt tình cung cấp tư liệu của các đồng chí đảng viên lão thành, các thế hệ lãnh đạo và nhiều đồng chí đảng viên trong Đảng bộ. Đặc biệt, trong quá trình sưu tầm, biên soạn Ban Chấp hành Đảng bộ đã nhận được sự chỉ đạo, giúp đỡ đầy trách nhiệm của Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Thọ Xuân. Nhân dịp này, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban chỉ đạo xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tập thể và cá nhân đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành cuốn sách này.

Mặc dù công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn đã cố gắng đến mức cao nhất nhưng vì thời gian có hạn, nguồn tư liệu còn lại quá ít, khả năng và kinh nghiệm biên soạn hạn chế... nên cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Ban Chấp hành Đảng bộ rất mong nhận được sự cộng tác góp ý chân thành của các đồng chí cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã cùng bạn đọc xa gần để lần tái bản sau được tốt hơn.

Thọ Hải , ngày 1 tháng 11 năm 2018

T/M BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ

                                                                                                                                           

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

ĐẤT VÀ NGƯỜI THỌ HẢI

 

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU  KIỆN TỰ NHIÊN

1. Vị trí địa lý

Xã Thọ Hải nằm ở phía tây nam huyện Thọ Xuân, cách trung tâm huyện 5 km, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 40km về phía tây bắc, với tổng diện tích tự nhiên 708,73 ha, (Trong đó đất nông nghiệp là 447,33ha chiếm 63,11%, đất phi nông nghiệp là 146,31 ha chiếm 27%, đất chưa sử dụng 0.45 ha chiếm 0,08%). Dân số là 5.165 người, được sinh sống ở 09 thôn hành chính chia thành 09 làng văn hoá. Đảng bộ Thọ Hải có 315 đảng viên sinh hoạt ở 11 chi bộ, (Trong đó có 07 chi bộ thôn và 3 chi bộ trường học, 1 chi bộ quỹ tín dụng nhân dân xã Thọ Hải).

Xã Thọ Hải nằm bên bờ sông Chu và tiếp giáp với các xã: Phía đông giáp xã Xuân Hòa; phía tây giáp xã Thọ Diên; phía nam giáp xã Xuân Hưng và xã Xuân Giang; phía bắc giáp xã Thọ Minh và xã Thọ Lập.

Vị trí địa lý của xã thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho xã tiếp cận nhanh với thị trường vùng lân cận, thúc đẩy quá trình giao lưu hàng hóa, thích ứng với nền kinh tế thị trường. Hệ thống giao thông thủy lợi rất thuận tiện; Thọ Hải có đường Quốc lộ 47C chạy qua, đường liên xã, liên thôn tạo thành mạng lưới giao thông thuận tiện, là xã đồng bằng trung du địa hình tương đối bằng phẳng. Ngành nghề chính của địa phương là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và kinh doanh buôn bán…

Địa hình:  Là xã đồng bằng nằm ở vùng hữu ngạn sông Chu nên Thọ Hải có vị thế thuận lợi: cận thị, cận giang, cận lộ, chợ Hương. Cùng với các địa danh Bái Thượng, Lam Sơn, Sao Vàng, Mục Sơn tạo nên một vùng kinh tế trù mật, một vùng đất với những di tích lịch sử có nhiều du khách viếng thăm. Thiên nhiên đã ban tặng cho Thọ Hải một vùng đất màu mỡ (không có núi, không có đồi), lại được người xưa để lại gần 3 km nông giang, biến vùng đất ngày xưa chỉ trồng trọt một vụ lúa bấp bênh (vì lụt, hạn) nay trở thành hai, ba vụ lúa, nên việc bố trí khu dân cư và đầu tư xây dựng cở sở hạ tầng rất thuận lợi, ngoài ra Thọ Hải còn có vùng chuyên canh, thâm canh để phát huy lợi thế và phát triển nền kinh tế trong xã một cách phong phú, đa dạng.

Xã Thọ Hải cách thành phố Thanh Hóa 40 km về phía tây (Quốc lộ 47C được rải nhựa từ năm 1910, từ thành phố Thanh Hóa qua Rừng Thông, Hậu Hiền, xã Thọ Hải từ dốc Hương là đến phố Tứ Trụ của xã Thọ Diên. Từ năm 1914, đã có xe khách chạy qua, mỗi ngày có hai chuyến ngược lên Bái Thượng và hai chuyến về Thanh Hóa. Từ năm 1940, đã thấy có xe Va-tuya (xe con) sang trọng chạy qua phố Tứ Trụ lên Bái Thượng hoặc sang phố Châu (Ngọc Lặc). Những năm kháng chiến chống Pháp, đường 47C bị phá hủy, xe cũng bị xếp bỏ. Ngay cả xe tay và người cưỡi cũng không còn qua lại trên đường.

2. Tài nguyên thiên nhiên

Thủy Văn: Thọ Hải có đuờng thủy chạy qua trên sông Chu (sông Chu xưa gọi là Lương Giang. Lương Giang còn có tên là sông Sủ). Năm 1898, khi người Pháp cai trị đã thiết kế xây dựng đập Bái Thượng, tiếng Pháp không có chữ Sủ, đã phiên âm Sủ thành Chu. Tên sông Chu có từ đấy, bắt nguồn từ cao nguyên Hủa phăn (Lào), có hai nhánh là sông Đạt và sông Âm. Khi chảy vào huyện Thọ Xuân thành sông Chu. Sông Chu chảy qua Thọ Hải tạo thành đường ranh giới với Xuân Thiên vốn là đường giao thông thủy rất thuận lợi. Trên dòng sông Chu người xưa đi lại tấp nập như trên bộ. Trên dòng sông thuyền bè xuôi ngược đem theo cá mắm, muối… và sản phẩm của miền xuôi lên chợ Hón. Rồi cũng trên dòng sông này gỗ nứa, chè, măng… của miền ngược xuôi dòng về với thành phố Thanh Hóa, Quảng Xương, Hoằng Hóa…

Nằm trên bờ sông Chu cũng tạo cho người Thọ Hải nếp sống sông nước: tắm sông, uống nước sông, đêm nằm nghe giọng hò của đò Giàng, đò Hới. Nhiều người đi buôn bán với vùng xuôi, vùng ngược, vào Nam ra Bắc. Nghe nhịp đập của con đò, người đi buôn mang hàng ra đã có người giúp bày lên khoang thuyền gọn gàng. sáng ra đã về đến Thanh Hóa. Bán hàng, mua hàng xong lại ngược dòng trở về, trên dòng sông này, các vua Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông... cũng đã từng xuôi ngược về thăm đất tổ Lam Sơn.

Trên dòng sông Chu, người Pháp đã xây dựng đập thủy nông Bái Thượng, đây là công trình thủy lợi lớn nhất xứ Đông Dương thời bấy giờ; công trình này phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa và vơ vét thóc gạo của thực dân Pháp. Công trình được thăm dò thiết kế từ năm 1898 nhưng phải dừng lại vì chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). Công trình, được khởi động lại sau khi chiến tranh thế giới thứ I kết thúc, Pháp là nước thắng trận. Dự án được toàn quyền Đông Dương duyệt chính thức vào ngày 24-01-1918 và khởi công vào ngày 28-3-1920. Đây là đập ngăn nước dài 160m, rộng 21m ở chân và 3m ở bề mặt, do đó khi nhìn, thấy mặt hông của đập là hình thang. Hai đầu của con đập được dựa vào dãy núi vững chắc, nó có thể nâng mức nước thấp từ 11m, lên 16m80. Toàn bộ công trình được xây bằng bê tông cốt thép. Khi xây móng, phải xuống độ sâu 2m mới gặp nền đá mà độ cao, thấp lại không đều nhau, do đó bề cao nhất của công trình đã lên đến 21m. Toàn bộ con đập chi phí hết 1.600.000 đồng tiền Đông Dương. Trên hữu ngạn và nối liền với con đập là cống 7 cửa để tháo nước thừa vào âu với vận tốc 4m3/giây để chảy vào con kênh; thành hai nhánh theo đường chỏm. Kênh Bắc chạy qua Thiệu Hóa, Đông Sơn cho tới tận thành phố Thanh Hóa; Kênh Nam ở Nông cống chảy sát ranh giới phía Tây châu thổ và cùng đến sông Yên ở gần ga Thị Long. Cả hai con kênh dài 110 km đã dẫn nước vào các chi giangtiểu chi giang mà lưu lượng nước được điều chỉnh từ những cửa cống rồi đến các mương máng nhỏ chạy thẳng vào các cánh đồng (các máng nhỏ là do dân các địa phương tự làm theo sự hướng dẫn của các nhân viên sở Công chính trong nhiều năm), đã đưa tổng chiều dài của toàn bộ hệ thống cung cấp nước tưới lên con số 2.135km, tính ra 1km tưới được 28ha. Chi phí tổng cộng cho toàn công trình là 4.760.000đ bạc Đông Dương. Theo tài liệu thì riêng công trình đập Bái Thượng đã phải sử dụng đến 5.600m3 bê tông, đắp 7 triệu m3 đất đá.

Sau 7 năm thi công công trình Thủy nông sông Chu (đập Bái Thượng) đã hoàn thành đảm bảo tưới nước cho trên 60.000 ha đất canh tác ở 6 huyện trong tỉnh. Năm 1952, máy bay Pháp ném bom phá hủy đập Bái Thượng. Sau khi hòa bình lập lại (cuối năm 1954), đập được sửa chữa và đưa vào sử dụng. Nhờ hệ thống nông giang mà ruộng đất Thọ Hải từ một vụ bấp bênh thành hai vụ ăn chắc.

Từ Thọ Hải ngược lên Mục Sơn gặp đường Hồ Chí Minh, từ đây vào Nam hay ra Bắc đều thuận lợi. Đi Hà Nội 150 km, Nghệ An 100 km đều rất dễ dàng. Từ đây có đường nhựa qua Ngọc Lặc, Lang Chánh, Quan Hóa, Quan Sơn... để qua Sơn La, Điện Biên Phủ hoặc lên Na Mèo đều dễ dàng.

Thọ Hải là vùng có vị trí “cận thị, cận giang, cận lộ” thuận lợi cho việc đi lại. Thọ Hải có chợ Hón là một chợ ở Thọ Xuân trong thời Nguyễn mà sách Đại Nam nhất thống chí đã chép là chợ mà “lái buôn bốn phương và các hộ đến họp nhiều". Chợ được họp ngay trên bờ sông Chu, ở phía dưới là một bến sông lớn mà thuyền, bè đậu san sát. Xưa kia, chợ Hương là nơi buôn bán rất nhiều các hàng nông sản và lâm sản như thóc, gạo, bông, tơ lụa, luồng gỗ, mật ong, nấm hương, mộc nhĩ, măng khô, măng tươi, củ nâu, mây, song... Các lái buôn người Hoa và ở Bắc Kỳ thường đến đây mua cất các loại hàng để mang ra Hà Nội, Hải Phòng. Người Mường, người Thái từ các huyện Thường Xuân, Lang Chánh cũng xuống đây để mua bán hàng hóa rất đông. Bánh gai, bánh bột lọc, nem chua là đặc sản nổi tiếng mà khách gần, xa chẳng bao giờ quên khi rời chợ.

Khí hậu: Thọ Hải được chia thành hai khu vực: nội đê và ngoại đê. Nhiệt độ trung bình năm là 23,6°c. Mùa hè nóng, mùa đông lạnh. Những ngày nóng diễn ra trong tháng 6, ngày nóng nhất lên tới 39°c, ngày lạnh nhất vào tháng 12, có những năm dưới 9oc. Mùa hè trung bình vào khoảng 28 - 30°c, mùa đông trung bình 25°c, năm cao nhất 27°c. Cuối năm 2007 đầu năm 2008, nhiệt độ xuống 9oc. Độ ẩm trung bình 86%, cao nhất 96% và thấp nhất là 67%.

Hằng năm, có hai mùa thay đổi. Mùa đông có gió mùa Đông Bắc thường rét khô và hanh, thổi từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch.

Mùa hè có gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 8, đưa hơi nước từ biển vào làm khí hậu mát mẻ và có mưa. Mùa hè còn có gió Tây Nam (gió Lào) thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 gây nóng và khô hạn, thời gian gió tây từ 12 - 15 ngày, đợt dài 5 - 6 ngày (gió này ảnh hưởng đến lúa Xuân, ngô gieo trồng muộn). Hướng gió thịnh hành là Đông và Đông Nam, tốc độ trung bình l,3m/s, lớn nhất là 20m/s. Từ tháng 7 đến tháng 10 thường có bão đổ bộ từ biển vào, tốc độ gió thường ở cấp 6 - 7, cá biệt có trận cấp 9 - 10, kèm theo mưa to, gây tác hại đến cây trồng và các công trình kiến trúc.

Lượng mưa trung bình trên dưới 1.800mm, năm cao nhất 2.947mm (1925), năm thấp nhất 1.459mm (1936), tháng mưa cao nhất là tháng 9, có những năm đến 15 ngày mưa. Từ tháng 6 đến tháng 10 là mùa mưa chính, chiếm 85% lượng mưa của cả năm, đây là giai đoạn thường gây ra lũ lụt. Từ tháng 2 đến tháng 5 là mùa khô. Tổng lượng nước các tháng này khoảng 105 - 108mm, bảng 10-15% lượng mưa cả năm. Số ngày có sương mù trong năm từ 21 - 26 ngày, thường xuất hiện tập trung vào các tháng 10, 11 và tháng 12, có tác dụng tăng thêm độ ẩm cho không khí và mặt đất. Với lượng mưa và nhiệt độ như vậy, Thọ Hải có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển cây mía, ngô, đậu, lạc.

Đất đai: Thọ Hải là xã đồng bằng châu thổ do sông Chu bồi đắp, phù sa của sông Chu chảy qua vùng núi macma axit như granit, riolit mang phù sa thô có chứa ít keo séc canxi, magiê bồi đắp nên đồng bằng Thọ Hải nói riêng, Thọ Xuân nói chung.

Nhìn chung đất đai ở Thọ Hải là loại đất nạc dày, tính chất vật lý và địa hình thuận lợi cho canh tác và phát triển cây lúa. Tuy nhiên, độ dày canh tác ở nhiều nơi mỏng, độ phì nhiêu không đồng đều, nếu không chú ý cải tạo thường xuyên sẽ rất chua và nghèo lân. Đây là vùng đất cấy lúa 2 vụ ăn chắc và có thể làm thêm một vụ màu. Nhiều năm qua Thọ Hải đã cố gắng hoàn chỉnh hệ thống thủy nông, hạn chế nước chảy tràn về tiêu thủy địa hình thấp trũng, đồng thời tích cực cải tạo đất bằng cách cày sâu, cày ải tăng cường các loại phân cần thiết (phân chuồng, phân xanh, vôi và lân), nhờ đó mà hiệu quả ngày một cao.

Cho đến năm 2018, trên cơ sở tài nguyên đất đai phong phú, đa dạng, xã Thọ Hải đã hoàn chỉnh việc quy hoạch phân vùng kinh tế, vùng chuyên canh, thâm canh và trong thực tiễn, hiệu quả kinh tế được khai thác từ nguồn lực đất đai ở trong xã. Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, ngoài việc bố trí cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi và nguồn nhân lực một cách hợp lý nhất là các khu vực ven sông đã nuôi cá lồng rất thành công.      

II. DÂN CƯ VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ

1.      Quá trình hình thành làng xã

Thọ Hải là một xã ở vùng trung, trung tâm của huyện Thọ Xuân; trước cách mạng tháng Tám xã gồm có 6 thôn: Vùng ngoại đê: thôn Hải Khoát, thôn Mậu Công, và làng Rạch. Nội đê: thôn Phấn Thôn, thôn Công Thành và thôn Hưng Nhượng. Ở các thôn thì nhân dân lại ở lẫn lộn với nhau. Trước cách mạng Tháng Tám là tổng Diên Hào, huyện Thọ Xuân nay là xã Thọ Hải huyện Thọ Xuân. Xã Thọ Hải, là một xã lớn, đất rộng, người đông, ruộng đồng phì nhiêu, bát ngát, mầu mỡ, là một xã có cả màu và lúa, mỗi năm 2 vụ. Ngoài lúa ra, xã còn có một vùng bãi mầu mỡ, phì nhiêu thu hoạch quanh năm. Một vùng bãi dâu xanh tốt, Nhân dân lao động cần cù, làm ruộng, chăn tằm, nghề làm hương, đan lát.

Nhân dân trong xã lại có truyền thống yêu nước từ lâu đời và đã đứng lên chống ngoại xâm như các vị tổ tiên họ Mậu Công, họ Công Thành cùng với anh hùng dân tộc Lê Lợi đứng lên khởi nghĩa chống quân Minh, hưng quốc… vào khoảng thế kỷ 14. Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, các vị anh hùng dân tộc: Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám đã lãnh đạo Nhân dân chống lại ngoại xâm, để giành lại độc lập cho dân tộc. Thời kỳ (1885 - 1896), ở Thọ Hải cũng có hai ông, sớm giác ngộ và tham gia như cụ Lê Văn Cửu (thân sinh ra đồng chí Lê Xuân Sinh sau này) gọi là cụ Cai Cô ở làng Phấn Thôn, cụ Quyền Điển (thân sinh đồng chí Lê Xuân Luyến) ở thôn Hưng Nhượng, tổng Diên Hào (nay là xã Thọ Hải) với đất đai phì nhiêu mầu mỡ, nhân dân lại cần cù, siêng năng lao động thì phải được cơm no, áo ấm, sung sướng nhưng trái lại cuộc sống của Nhân dân vẫn khổ cực, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, quanh năm ngày tháng đi cày thuê, cuốc mướn cho bọn hào lý trong làng; ruộng đất, thì bọn hào lý chiếm hết, chúng tìm mọi cách để bóc lột Nhân dân, bóc lột đủ điều, người nông dân với sưu cao, thuế nặng. Mỗi năm cứ đến vụ sưu thuế, bọn cai lính ở trên về đôn đốc thì chúng lại gông cùm đánh đập nhân dân, có người không có tiền nộp phải bán vợ, đợ con, bán nhà, cố ruộng để lấy tiền nộp sưu, nộp thuế. Ngoài ra bọn hào lý còn bày ra cúng tế thần thánh, vọng ngôi phe giáp, đặt ra tục lệ ma chay, cưới xin, để chúng chè chén, đục khoét, như Tố Hữu đã nói: “Có làm mà chẳng có ăn”[1].

Bởi sự áp bức bóc lột quá tàn nhẫn của bọn hào lý củ thực dân Pháp, với truyền thống yêu nước, căm ghét thực dân Pháp, nhân dân Thọ Hải hưởng ứng tham gia đấu tranh tron các cao trào, như phong trào Cần Vương, Đông Kinh nghĩa thục.

Các vị có phẩm hàm, quan chức. Nhưng ở Thọ Hải nói riêng Thọ Xuân nói chung, ta thấy từ các vị khoa mục, chức sắc, đến thí sinh, khóa sinh đều được ngồi ở ngôi thứ trọng vọng nhất. Điều này chứng tỏ ở Thọ Hải, có điểm khác biệt so với nhiều thôn xã khác trong tỉnh. “Tước” và “Xỉ” cũng được coi trọng như nhau trong việc bầu người đứng đầu “giáp” (cũng như tiên chí):

“Hương ước là nếu người nào phạm phải khoán ước của hương loại nặng, và người tàn tật thì không được dự bầu”[2]. Cho hạng thứ sinh, khóa sinh được ngồi tại gian giữa đình làng (tất nhiên theo tứ bậc hạng) là vinh dự của người theo nghiệp bút nghiên. Ngay từ khi bắt đầu cắp sách đi học đã được trừ tạp dịch.

Xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân hiện nay là một đơn vị hành chính nằm trong 27 huyện, thị, thành phố của tỉnh Thanh Hoá, có 38 xã và 3 thị trấn nằm dọc đôi bờ tả ngạn của sông Chu, có tổng diện tích tự nhiên là 29.672ha, dân số là 2.2.000 người. Nhìn trên bản đồ huyện Thọ Xuân ngày nay, xét về phạm vi cương vực lãnh thổ, về cơ bản vùng đất Thọ Xuân hiện tại vốn là đất của huyện Lôi Dương thuộc phủ Thọ Xuân (năm Minh Mệnh thứ 2 - 1821) và một phần huyện Lương Giang (sau đổi thành huyện Thụy Nguyên) bao gồm 4 tổng Phú Hà, Quảng Thi, An Trường và Thử Cốc thuộc phủ Thiệu Hoá (năm Gia Long thứ 14 - 1815).

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), để tăng cường sự thống nhất bộ máy hành chính. Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo Thừa Tuyên và 1 phủ Trung Đô. Đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu. Thanh Hoá thời kỳ này gồm 4 phủ, 16 huyện, 4 châu - đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) thì đổi Thanh Hoá thừa tuyên thành Thanh Hoa thừa tuyên. Diên cách thời kỳ này bao gồm 4 phủ: phủ Thiệu Thiên (8 huyện): Đông Sơn, Lôi Dương, Yên Định, Vĩnh Ninh, Bình Giang, Lương Giang, Cẩm Thủy, Thọ Xuân; phủ Hà Trung (gồm 4 huyện): Tống Giang, Hoằng Hoá, Nga Giang. Thuần Hựu; phủ Tĩnh Ninh (gồm 3 huyện): Nông Cống, Triệu Sơn, Ngọc Sơn; phủ Thanh Đô (gồm 1 huyện, 4 châu): huyện Thọ Xuân, châu Quan Da, châu Lang Chánh, châu Tàm, châu Sầm.

Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), gộp huyện Thọ Xuân vào châu Lang Chánh làm hai tổng: Mộc Lộc và Quân Nhân, tức là bốn động Trịnh Vạn, Mậu Lộc, Quân Thiện, Lâm Lự, lại tách hai tổng ấy vào châu Thường Xuân mới đặt thêm. Như thế huyện Thọ Xuân bấy giờ là tương đương với hai tổng Mậu Lộc và Quân Nhân huyện Thường Xuân ngày nay, khác với huyện Thọ Xuân ngày nay.  Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) thuộc phủ Thanh Đô dưới triều vua Lê Thánh tông. Phủ Thanh Đô tồn tại một thời gian 352 năm từ năm 1469 đến năm 1821, đời vua Minh Mạng (triều Nguyễn) đổi làm phủ Thọ Xuân. Lúc này huyện được đổi tên thành phủ. Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) huyện Lôi Dương thuộc phủ Thọ Xuân. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) lại hợp nhất huyện Thọ Xuân miền núi vào châu Lang Chánh. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) đổi tên Thanh Hoa thành Thanh Hoá. Cho phủ Thọ Xuân mới kiêm thêm châu Thường Xuân và châu Lang Chánh. Sau năm 1945, bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hoá gồm 21 huyện, thị xã (các tên phủ, châu đều đổi ra huyện cả). Còn huyện Thọ Xuân dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà (Thọ Xuân miền xuôi), tương ứng với vùng đất hiện tại vốn là đất huyện Lôi Dương và một phần huyện Thụy Nguyên mà đặt tên là huyện Thọ Xuân như đã được trình bày ở phần trên.

Xã Thọ Hải hiện nay, trước cách mạng tháng Tám bao gm: xã Diên Hào, thôn Phấn (tên nôm là làng Bún), xã Hương Phấn, thôn Công Thành xã Hương Phấn, thôn Mậu Công xã Hải Lịch, thôn Rạch. Các làng có bộ máy quản lý gồm: Lý trưởng, người đứng đầu của làng, quản lý mọi việc như thu sưu, thuế... Có con dấu riêng hình chữ nhật, dùng mực đen. Phó lý: Người giúp Lý trưởng, thay Lý trưởng vắng mặt. Hương bạ: Thư ký của làng, giữ việc sinh, tử, giá thú, thổ trạch... Có con dấu riêng hình bầu dục. Hương kiểm: Coi việc trật tự trị an. Hương bản: Giữ quỹ, tài sản của làng. Vsau có thêm các chức như Hương dịch, Hương Nông, Đoàn Xã.

Sau cách mạng tháng Tám đổi tên là xã Đô Lương bao gồm các làng của xã Thọ Lâm, Thọ Hải, Thọ Diên và Xuân Hoà. Tiếp đó vào năm 1949 lại đổi gọi là xã Thọ Sơn gồm Thọ Lâm, Thọ Hải và Thọ Diên.

Hiện nay, xã Thọ Hải gồm các làng: làng Hương, làng Buốn (Bún), làng Hoá (Hỏn), làng Rạch, Làng Công Thành, Làng Mậu Công. Nhà thờ họ Lê Đình thuộc làng Công Thành, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân.

2. Truyền thống lịch sử và phong tục tín ngưỡng

Đình Hương Nhượng nằm trên địa bàn thôn Hương Nhượng, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Xưa nơi đây thuộc tổng Diên Hào, thôn Hương Nhượng, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa.

Từ trung tâm thành phố Thanh Hoá đi hướng tây nam theo Quốc lộ 47A qua huyện lỵ Thọ Xuân đến km 39 rẽ phải khoảng 200m là đến di tích đình làng Hương Nhượng.

Hương Nhượng là một làng cổ nằm bên hữu ngạn sông Chu (Lương Giang), một đầu mối giao thông quan trọng trong những năm Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược. Làng mạc ở đây trù phú, đất đai bằng phẳng, mầu mỡ, rất thuận lợi cho việc thâm canh sản xuất. Đây còn là nơi có nghề trồng dâu nuôi tằm từ xa xưa.

Có thể nói đây là một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời và phong phú. Thọ Hải là quê hương của vị Khai Quốc Công Thần đầu thế kỷ XV Khanh An Hầu Lê Văn Linh. Quanh Thọ Hải trong phạm vi khoảng trên dưới 10km2 còn là quê hương và nơi phát tích của hai vị vua khai sáng cho hai triều đại phong kiến của dân tộc ta là Lê Đại Hành (thời Tiền Lê) và Lê Thái Tổ (thời Hậu Lê).

Các làng dọc hai bờ sông Chu, quanh vùng này cũng là nơi sinh ra nhiều vị Khai Quốc Công Thần, tướng lĩnh gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thế kỷ XV như: Lê Nhữ Lãm (Thọ Hải), Lê Văn An (Xuân Lam), Trương Lôi (Xuân Bái), Trương Chiến (Xuân Thiên), Lê Lý (Hải Lịch), Vũ Uy (Mục Sơn), Trần Lựu (Đàm Thi), Lê Lai (Bái Đô)...

Theo bản thần phả của làng thì Đình Hương Nhượng thờ vị Phúc Thần Thành Hoàng làng là Thái Úy Từ Quốc Công Lê Khả Lãng, Khai Quốc Công Thần thời Hậu Lê.

Phong tục tín ngưỡng ở Thọ Hải

Thọ Hải có những phong tục, tập quán riêng như ma chay, cưới hỏi, lễ tết. Ngày xưa các làng có nhiều ngày tết, ngày hội. Đấy là dịp bà con xa gần, con cái đi xa về viếng tổ tiên, thăm cha mẹ, làng xóm. Trong các ngày lễ tết ấy có tết Nguyên Đán, tết Khai Hạ (7/1), tết Thượng Nguyên (15/1), tết Hàn Thực (3/3), Phật Đản (15/4), tết Đoan Ngọ (5/5), Vu Lan (15/7), Trung Thu (15/8), Trùng Cửu (9/9), Song Thập (10/10), tiễn Táo quân (23/12)... Ngày nay, tục lệ lễ tết được giảm đi nhiều, chỉ còn có các lễ tết như sau:

Tết Nguyên Đán

Cũng như các vùng khác, tục ăn tết có từ xa xưa. Chiều 30 tết, các nhà dựng cây nêu để tổ tiên biết đường về ăn tết, dùng vôi vẽ cung tên để ngăn chặn tà ma vào nhà. Nhà dù nghèo cũng phải có cân thịt, nồi bánh chưng, trẻ con được manh áo mới. Đêm 30 mọi nhà đều cúng giao thừa, đón chờ một năm mới tốt lành. Con cháu cùng chúc tết ông bà, người lớn “lì xì” mấy đồng tiền lẻ mừng tuổi các em. Rồi đi chúc tết hàng xóm, họ hàng. Theo tập quán, dẫu ai bất cứ ở đâu, làm bất cứ nghề gì, hằng năm mỗi khi tết về cũng mong muốn tha thiết được trở về nhà sum họp gia đình trong ba ngày tết. Ngày tết là ngày hội đoàn tụ, đoàn viên ấm cúng.

Đây là dịp để các gánh hát của các làng hoạt động, có khi đến hết tháng Giêng vẫn còn đi lưu diễn ở nhiều nơi. Cũng cần nói thêm trước tết Nguyên Đán một tuần vào ngày 23 tháng Chạp, người ta đã làm lễ tiễn ông Công. Chiều 30 tết đi chập mả, đón ông bà tổ tiên về ăn tết.

Sau 3 ngày tết lại trở lại với công việc làm ăn bình thường. Tuy vậy, không khí tết vẫn còn đến hết tháng Giêng.

 

  Tết Khai Hạ

Còn gọi là ăn tết lại, diễn ra trong một ngày, ngày 7 tháng Giêng. Tết khai hạ có nghĩa là tết mở đầu một ngày vui để chào đón một ngày xuân mới. Theo cách bói toán của người xưa thì tuy tháng đầu năm, ngày mồng Một ứng vào , mồng hai: chó, mồng ba: lợn, mồng bốn: dê, mồng năm: trâu, mồng sáu: ngựa, mồng bảy: người, mồng tám: lúa. Trong tám ngày đầu năm, hễ ngày nào khô ráo, sáng sủa thì giống gì thuộc về ngày ấy, cả năm được tốt. Cho nên, đến ngày mồng 7 trời nắng ráo thì người ta tin rằng cả năm người được khoẻ mạnh, gặp nhiều may mắn, tốt lành. Mồng 7 hạ cây nêu. Người ta mở ngày tết Khai Hạ là mong mỏi một năm tốt lành, vui vẻ.

Rằm tháng Giêng (tết Thượng Nguyên)

"Lễ Phật quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng". Đó là ngày trăng tròn đầu tiên của năm mới, là Rằm tháng Giêng hay tết Thượng Nguyên. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa vì ngày Rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật tổ A-di-đà. Thiện nam, tín nữ đi lễ rất đông, tết Thượng Nguyên ngày trước ít nhà tổ chức. Mấy năm gần đây đời sống khá hơn, thì dịp này có nhiều người đi Chùa, trên bàn thờ tổ tiên bày hoa quả, thắp hương.

Tết Đoan Ngọ (Mồng 5 tháng 5)

Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương, vậy nên mới có câu thơ:

Chưa ăn bánh nếp Đoan Dương

Áo bông chẳng dám khinh thường cởi ra

Theo âm lịch thì ngày 5 tháng 5 là hết Xuân sang Hạ. Đây là khí tiết chuyển mùa nên hay có bệnh thời khí, nhưng cũng là ngày giỗ của Khuất Nguyên - một thi sĩ Trung Hoa cổ đại. Là một trung thần, Khuất Nguyên khi còn làm quan đã can ngăn Hoài Vương. Hoài Vương không nghe, ông phẫn chí gieo mình xuống dòng sông Mịch La tự vẫn. Dân Trung Quốc làm giỗ ông vào ngày 5 tháng 5 và cúng lễ bằng cách ném các loại bánh bao, bánh ngọt, cuốn chỉ ngũ sắc ở ngoài (có ý làm cá khỏi đớp mất) xuống sông.

Ta không mấy ai biết ông Khuất Nguyên và tích đó nên cứ gọi tết 5 tháng 5 là tết "Giết sâu bọ” vì như trên đã nói, tiết này là tiết chuyển mùa nên sâu bọ bệnh tật hay hoành hành.

Vào dịp tết Đoan Ngọ, nhân dân không biết Khuất Nguyên là ai mà coi đây là lễ giữa năm, phòng bệnh, trừ tà. Vào ngày này, các gia đình lấy thứ lá ngải cứu, ích mẫu, lá vối... đem ủ rồi phơi khô làm chè uống quanh năm, vừa để phòng bệnh, chữa bệnh.

Tết Trung Nguyên (Rằm tháng 7)

Tết Trung Nguyên có tên khác là tết Rằm tháng 7, người xưa coi là ngày “xá tội vong nhân”. Do đó, vào ngày này, tại các Chùa thờ Phật thường làm cỗ chay và cầu kinh Vu lan. Còn các nhà thì bày cỗ cúng gia tiên, đốt vàng mã và đồ dùng bằng hàng mã để người dưới “âm ty” dùng. Ngày nay, đến Rằm tháng 7, các gia đình vẫn làm mâm cơm cúng tổ tiên, mấy năm trước không còn đốt vàng mã thì nay lại phục hồi.

Tết Trung Thu (Rằm tháng 8)

Tết của trẻ con nhưng người lớn cũng gặp nhau để trà tửu, ngâm thơ, ngắm trăng gọi là “thưởng nguyệt”, cỗ thưởng nguyệt (trông trăng) có chiếc bánh nướng hình trăng tròn, bưởi, hồng và nhiều thứ hoa quả khác (có khi được gọt tỉa thành hoa và các hình con giống rất đẹp). Đáng chú ý là các loại đồ chơi Trung thu của các em như tiến sĩ giấy, voi, đèn kéo quân, ngựa hồng, các loại mặt nạ, đèn ông sao... và tối đến, trước khi “phá cỗ” là trò chơi múa rồng, múa sư tử, xem đèn kéo quân. Dịp này Đoàn thanh niên xã tổ chức cho các em cắm trại, vì dịp này thường là dịp 19/8 và 2/9 nên tổ chức khá rầm rộ.

Tính ra mỗi năm ngày trước trong dân gian có 12 ngày lễ, tết. Dân ta quen gọi là tết. Ngoài ra, còn có giỗ ông bà, tổ tiên. Nhà giầu có làm lớn, nhà nghèo làm đơn giản, không ai bỏ giỗ. Đấy là ngày nhớ ơn, trả ơn cha mẹ tổ tiên, đoàn tụ gia đình.

Mỗi làng ngày xưa có một cái giếng, đa số dân ăn nước sông, tắm giặt thì dùng nước ao nên có nhiều bệnh như đau mắt hột, bệnh đường ruột. Ốm thì dùng thuốc Nam, thuốc Bắc. Cả xã có một vài cụ lương y, đa số việc chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian bằng thảo dược của địa phương. Mỗi cụ lương y thường chữa được nhiều bệnh, có người lại có một chuyên khoa sâu như đau mắt, bó xương, cảm hàn... Thầy thuốc kê đơn, người nhà bệnh nhân phải lên phố phủ để mua thuốc. Bệnh nặng khó qua thì cầu đảo thần linh, uống tàn hương nước lã. Sau này (năm 1936), phủ Thọ Xuân có Nhà Thương nhưng là nơi dành cho người giàu có, dân nghèo ốm đau lây lất nên tuổi thọ trung bình rất thấp. Tình trạng hữu sinh vô dưỡng rất phổ biến. Việc đỡ đẻ khoán cho các bà mụ với những dụng cụ sơ sài như lách nứa, chỉ buộc…

Tập quán địa phương xưa nay đều cần cù, giản dị, là đất của trai thanh gái lịch, ham học ham làm. Ngày xưa cả xã có mươi gia đình giàu có, khá giả có chiếc xe đạp, có nhà ngói ba gian hai chái, sân gạch, còn hầu hết là nhà tranh, vách đất.

Tình làng nghĩa xóm rất sâu nặng, hễ nhà nào có công việc là bà con kéo đến giúp đỡ; như làm nhà ngói thì rủ nhau gánh đất đắp nền, gánh cát xây nhà, không lấy công.

Nếu làm nhà tranh thì cho nhau vài sào rạ, tối sáng trăng rủ nhau đến đánh tranh giúp. Khi lợp nhà, chỉ cần gọi một tiếng là nam giới trong xóm kéo đến. Người già thì đưa tranh, trai trẻ lên mái lợp. Khi lợp nhà có tiếng hô cát ngõ, cát húc nhé . Nghe rất vui tai. Lợp xong, nhà có thì chiêu đãi xôi chấm mật, nếu không thì chỉ chén chè xanh là xong, không ai phàn nàn gì.

Nhân dân ăn mặc rất giản dị, con trai thì quần nâu, áo vải, con gái mặc váy nhuộm nâu trát bùn cho đen. Con nhà giàu mặc váy đậu, váy lụa. Nam giới đi việc làng phải đội khăn.

Phong tục các làng giản dị, các lệ tục như cưới hỏi, giỗ tết, hiếu hỷ vẫn theo quy định từ xưa nhưng không gây phiền toái, tốn kém.

Từ xưa có tập quán hỏi vợ cho con ngay từ khi mới đẻ. Hai nhà “môn đăng, hộ đối”. Khi vợ có mang đã hẹn hò thông gia. Khi đã thành thông gia, bên nhà trai phải đi tết một năm 3 kỳ: Tết Nguyên Đán, tết Đoan Ngọ, tết 10/10 (tết cơm mới). Cứ thế cho đến năm 18-20 tuổi, nhà trai phải mượn người có uy tín trong làng hoặc thân tình với nhà gái đến xin cưới.

Khi nhà trai đến đón dâu, trẻ nhỏ ở làng xóm nhà cô dâu đem sào, gậy ra chắn ngang đường gọi là rấp rào. Họ nhà trai phải cử người thưởng tiền mới được rút sào cho đi. Cứ thế hết chặng này đến chặng khác. Khi rước dâu có một ông tuổi trung niên vác con dao cò, lưỡi bôi vôi trắng xoá đi trước. Cô dâu về đến nhà chồng, nhà chồng phải bày cỗ cho mọi người đi rước dâu ăn. Mỗi mâm cỗ 4 người, cỗ bắt buộc phải có 1 đĩa xôi, 1 đĩa giò mỡ, 1 đĩa giò lụa, 1 đĩa bánh rán.

Vviệc hiếu mỗi ngõ phải sắm một bộ đòn khiêngxập kiệu để khiêng những ông bà già cả qua đời. Khi nhà có người mất thường để lại một đêm (đã khâm liệm) để con cháu trống kèn thờ đêm.

Sáng hôm sau mới mai táng. Đến 3 ngày, tang chủ phải làm cỗ mời bà con đến phúng viếng, nếu ai quên sẽ bị dân làng quở trách.

Con trai đến 18 tuổi phải xin vọng làng, gia đình phải sắm trầu rượu ra đình xin cho vọng làng. Ngày được vọng làng là ngày 18 tuổi (dù hơn hay kém tuổi ấy cũng được coi là 18). Được vọng làng phải chịu gánh vác công việc làng (nhưng nếu có bằng tuyển sinh, bằng tiểu học thì được miễn), phải đóng thuế thân.

Đủ 18 tuổi con trai được sinh hoạt theo làng văn, làng võ. Làng Văn gồm người có chữ nghĩa. Làng Võ gồm những người đã đi lính.

Các làng có văn chỉ, võ chỉ. Văn chỉ là nơi sinh hoạt của làng văn, thờ Khổng Tử và các nhà khoa bảng của làng. Võ chỉ thờ các vị võ quan của làng đã có công đánh giặc giữ nước. Văn chỉ và võ chỉ có ruộng để thờ tự, cúng lễ.

Tính từ khi lập làng xã, các dòng họ có người đầu tiên khai hoang lập ấp đến nay đã hơn 800 năm. Bao thế hệ cha trước con sau nối tiếp nhau xây dựng một vùng đất hoang vu thành một vùng đất trù mật, dân cư đông đúc, quê hương của nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân, của những chiến sĩ cộng sản. Hàng nghìn người Thọ Hải ra đi lập nghiệp, lập thân trên mọi miền đất nước vẫn nghĩ về quê hương, dòng họ với niềm kiêu hãnh về quê cha đất tổ.

Đình Hương Nhượng

Thờ Từ Quốc Công Lê Khả Lãng quê ở thôn Dao Xá, hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa. Theo bản sao gia phả dòng họ Lê chép năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777) thì khi nhà Hồ mất, ông theo nhà Hậu Trần (1407-1413) lấy Thái Trương Công Chúa Ngọc Quỳnh và được phong là Phò Mã Đô Uý. Ông từng giúp vua Hưng Khánh và Trùng Quang đánh giặc Minh xâm lược.

Đến năm Quý Tỵ 1413 nhà hậu Trần mất, Phò Mã Đô Úy Lê Khả Lãng về làng Dao Xá, huyện Thụy Nguyên. Năm Mậu Tuất 1418 ông cùng hai con trai lớn là Lê Ngang và Lê Liệt theo Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược.

Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi lấy niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất. Tướng Lê Khả Lãng được phong Thái Bảo, tước từ Quận Công, giữ chức Đồng Tổng Quản Thương Nam Sách vệ chủ quân sự phong tặng Thái Phó Từ Quốc Công. Ông là một trong số 35 vị công thần do chính tay Lê Lợi “ngự danh” (Ngự danh tam thập ngũ danh: “Vi tích lộc hầu, phong tước Từ Quận Công. Do ứng Quốc Sự”)1

Ngày mồng 3 tháng 5 Thuận Thiên thứ 2 năm Kỷ Dậu 1429 Thái Tổ ban biển ngạch cho 93 vị công thần. Ông được phong tước Hầu.2

Năm Hồng Đức thứ 15(1484), ông được phong Thái Bảo Tuyên Dương Hầu. Đến năm Hồng Đức thứ 17 (1486) Ông được tái tặng Thái Phó Từ Quốc Công và được phong Kiểm Hiệu Nhập Thị Kinh Diêm Binh Bộ Thượng Thư - Đô Úy Thái Sư Tả Thánh Văn Vương3.

Thái Phó Từ Quốc Công Lê Khả Lãng sinh được 5 người con trai, đều có công bình Ngô mở nước. Trong đó có hai người ở bậc thượng chí tước công, được bao phong Đại Vương.

Trưởng nam Bình Ngô Khai Quốc suy trung tán trị công thần. Đặc tiến Kim tự, vinh lộc đại phu đại tướng quân thần Vũ Vệ Chưởng lại bộ Bắc xứ. Chánh xứ thái tổ đô quận công Lê Ngang.

 Binh bộ Khai Quốc công thần, Thái Bảo Nghĩa Chính Công Lê Liệt.  Phái ninh hầu Lê Khả An,  đặc tiến kim tự vinh lộc đại phu Thanh Hoa xứ trấn thủ nguyên thái hầu Lê Khả Trung, Thạch hương hầu Lê Khả Thuỵ.

 Từ Quốc Công Lê Khả Lãng mất ngày 25/01 năm Nhâm Tuất Đại Bảo thứ 3 (1442). Được phong phúc thần và thờ ở nhiều nơi. Nơi thờ chính ngày nay ở ngôi đình lớn thôn Hương Nhượng, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Đình Hương Nhượng là di tích lịch sử, văn hoá, công trình kiến trúc nghệ thuật điêu khắc gỗ dưới triều Nguyễn cuối thế kỷ XIX. Đây là ngôi đình làng cổ, ban đầu được dựng ở ven bờ sông Chu. Mái lợp bằng tranh đơn giản nên đến mùa mưa bão, lũ lụt đình thường bị đe doạ. Vì vậy, nhân dân ở đây đã rời ngôi đình vào trong giữa làng tại một khu đất rộng, cao và bằng phẳng có chiều dài 64m và chiều rộng 50m với tổng diện tích là 3.200m2. Đi từ ngoài vào, đầu tiên ta gặp cổng tam quan gồm có 4 trụ, 2 trụ lớn cao 4m và 2 trụ nhỏ cao 2m. Tiếp đến là sân đình, được lát bằng gạch bát vuông có kích cỡ 30 x 30cm.

Đình được xây dựng theo kiểu hình chữ đinh (J) với chiều dài là 22,58m; rộng 8,32m. Toàn bộ kiến trúc của đình đều được làm bằng gỗ lim. Đình được chia ra làm 2 phần là tiền đình và hậu đình.

Tiền đình gồm 5 gian, 2 chái. Gian giữa rộng nhất với chiều dài 4,1m rồi đến các gian 2 bên thu hẹp dần có kích thước là 43,2m và 2,8m. Hai chái đều rộng 3,55m.

Mỗi vì kèo ở đây có 4 hàng chân cột. Khoảng cách từ cột quân đến cột cái rộng 1,32m. Cột quân cao 3,12m; đường kính cột là 0,30m. Khoảng cách từ cột cái đến cột cái rộng 2,8m. Cột cái cao 4m; rộng 0,34m. Các chân tảng cột làm bằng đá có kích cỡ như nhau : 0,55 x 0,55m.

Vì kèo ở đây kết cấu theo kiểu chồng giường kẻ bảy. Gồm ba cặp vì đối xứng, được trang trí và chạm khắc tương đối giống nhau. Trang trí ở đình chủ yếu tập trung vào các đề tài như tứ linh (long - ly - quy - phượng), tứ quý (tùng - trúc- cúc - mai) và rồng xen lẫn vân mây, hoa lá.

Hai vì ở giữa là vì số 3 và vì số 4 chạm chỗ cầu kỳ, tỉ mỉ, đường nét chau chuốt. Phía trên vì kèo kết cấu theo kiểu chồng giường giá chiêng, soi gờ chỉ câu đầu. Đầu dư chạm vân mây xoắn. Bẩy chạm khắc tứ linh xen lẫn vân mây xoắn, nét chạm ở đây sâu, tỉa tuốt, công mộc. Xà nách được đục gờ chỉ. Chỗ nghé bẩychạm quy và vân mây. Các con giường chồng lên nhau. Đề tài trang trí ở đây là các vân mây liên hoàn. Các vì kèo ở mái sau cũng được trang trí tương tự như vì kèo mái trước.

Đến hai vì kế tiếp hai bên là vì số 2 và vì số 5 có kết cấu tương đối giống hai vì giữa. Cũng được kết cấu theo kiểu chồng giường giá chiêng. Liên kết giữa các cột con và cột cái là các con giường, giữa các cột con và cột hiên là các kẻ bẩy. Các con giường chồng lên nhau và trang trí các đề tài như tứ quý, vân mây xoắn cùng các hoa lá khác.

Hai vì kèo hồi là số 1 và vì số 6 cũng tương tự như vậy. Phần từ quá giang trở xuống đến cột tương tự như các giường đã nói trên. Phần từ quá giang trở lên đến giường, giá chiêng và hai hồi chóp (phần chóp) đều được trang trí 2 mặt hổ phù oe mặt trời. Đường nét chạm chỗ ở đây công phu, cầu kỳ. Phía dưới có chạm đôi rồng chầu theo kiểu cách điệu.

Từ quá giang trở xuống, cột cái ra cột con và từ cột con bắt quyết ra cột hiên. Hai chái có bẩy tạo nên liên kết liên hoàn chặt chẽ.

Đặc biệt toàn bộ xà hoành được bào nhẵn. Thượng lương có chữ nho ghi lại quá trình dựng đình sau khi chuyển từ ven bờ sông vào làng là : “Duy Tân ngũ niên thập nhất nguyệt tuế thứ Tân Hợi nhị thập bát nhật thụ trụ thống” (Duy Tân năm thứ 5 Tân Hợi, tháng 11 ngày 28).

Khải Định tuế thứ nhị niên tại Đinh Tỵ thập nhị nguyệt nhị thập nhật thượng lương (Khải Định năm thứ 2 tức Đinh Tỵ tháng 12 ngày 20).

Xà thượng của gian giữa được chạm trổ cầu kỳ đôi rồng chầu. Đường nét uốn lượn, mềm mại, xen lẫn các vân mây xoắn. Xà Trung cũng được trang trí giống xà thượng.

Mái đình ban đầu được lợp bằng ngói mũi hài. Sau này do sự hủy hoại của thiên nhiên và những biến cố lịch sử qua thời gian. Cho đến nay mái đình được lợp bằng ngói giợp xen lẫn ngói mũi hài. Tiền đình đặt ba ban thờ, ban giữa thờ Hội đồng, hai bên thờ các quan.

Hậu đình ban đầu gồm ba gian, sau này khi chuyển vào làng Hương Nhượng thì hậu đình được thu hẹp lại còn hai gian. Mỗi gian có chiều dài 4,1m và chiều rộng là 3,5m. Các vì kèo được làm đơn giản. Đây cũng là nơi thờ Phúc Thần Thành Hoàng Làng Thái phó Từ Quốc Công Lê Khả Lãng. Bên trong hậu đình ở phía trên còn có bức đại tự ghi “Thánh cung vạn tuế” (Đức thánh muôn năm). Một bộ long ngai cao 90cm, rộng 70cm, bộ chân nến gỗ cao 30cm, đường kính đáy rộng 15cm, 3 bộ ống cắm hương gỗ cao 27cm, rộng 12cm một bộ đài đựng nước và rượu, một lục bình gốm cao 26cm, rộng 15cm.          Ngoài ra ở đây còn có các câu đối :

            “Phong vũ lôi đình chỉ xích thiên

            Y quan lễ nhạc thanh danh địa”

  Dịch nghĩa :

            “Mưa, gió, sấm, chớp một thước đến trời

        Lễ nhạc, áo mũ quan lại một vùng nổi tiếng”

Hiện nay, ở Từ đường thôn Trung Hoà, xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình còn lưu giữ một số sắc chỉ thời Lê Trung Hưng.

Một tờ đề ngày 18/5 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23 (1763) nội dung sắc chỉ có ghi : “Con cháu Khai Quốc Công Thần Từ Quốc Công Lê Khả Lãng từ làng Dao Xá, hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên rời đến quê ngoại là huyện Gia Viễn. “Từ Quốc Công có nhiều công lao mở nước được ban: Thiết Khoán Đan thư. Con cháu cả họ đều được miễn việc binh, việc họ, thuế tiền, thuế gạo, cùng các việc xây dựng như đắp đê, đắp đường”. Một đạo ghi ngày 8/8 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1768).

Một đạo phong ngày 26/7 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1784) phong thêu mỹ tự cho phúc thần Lê Khả Công, thượng đẳng thần Khương Quốc, tán trị hùng dũng đại vương. Sắc phong có câu tán

"Thiên dã hùng tài thế tư dũng lực.

Tòng nhung tán bạch mao hoàng Việt tế vu

Gian kỳ công chiến khoáng đan thủ đồng mưu vị thế... "

  Tạm dịch như sau :       

  “Trời cho tài lớn đời cây thế tùng

  Theo việc quân cầm cờ mao trắng, bùa vàng xông pha bao trải gian nan”

  Xét công lao ghi trong khoán sắc đồng cùng nước cùng vui lời thề thốt...

  Tiếp theo là :

“Hoạn nạn ngự tại lưu dân lạc ư xuân thọ

Diên hy tích hổ điệu quốc thế ư thải bàn”

Tạm dịch như sau :

“Chống hoạn nạn, ngăn mọi tai ương, đưa dân vui chơi đài xuân cải thọ.

Cho tốt lành cho phúc dài lâu, vững thế nước, thủ vui thái non bàn”.

Tóm lại đình Hương Nhượng là di tích lịch sử văn hoá, công trình kiến trúc nghệ thuật điêu khắc gỗ cuối thế kỷ XIX còn lưu giữ lại tương đối nguyên vẹn về các giá trị văn hoá vật chất và tinh thần.

Những trang trí kiến trúc ở đình nó thể hiện bàn tay lao động, sáng tạo khéo léo của các nghệ nhân lúc bấy giờ. Đây là một sản phẩm văn hoá của dân tộc Việt từ xưa. Nó còn là di tích lưu niệm danh nhân, nơi lưu giữ những giá trị lịch sử về quá trình xây dựng làng xã ở nước ta. Thông qua đó nó cũng phản ánh rất rõ tiếng nói của người đương thời đó là ước vọng bình yên trong xã hội.

Đình làng Hương Nhượng còn là trung tâm sinh hoạt và giao lưu văn hoá làng xã, là nơi hội họp và diễn ra các hoạt động văn hoá truyền thống. Nó còn là công trình kiến trúc nghệ thuật gắn với một vùng đất cổ địa linh nhân kiệt.

Đây là một di sản văn hoá vô giá, bởi nó là bằng chứng thiết thực nhất lưu giữ lại những nét đẹp và những thành tựu văn hoá truyền thống, trên một mảnh đất linh thiêng đã sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước nói chung và xứ Thanh nói riêng.

Chính vì vậy mà việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá vật chất, tinh thần của đình là một việc có tầm quan trọng và cấp thiết. Để lưu giữ lại những nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc ta nói chung và ở địa phương nơi đây nói riêng. Nhằm tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân thế hệ sau này. Để nó xứng đáng hơn với mảnh đất xứ Thanh anh hùng, với truyền thống hào hùng của nhân dân Thanh Hoá. Nơi quê hương của hai vị vua khai sáng cho hai triều đại phong kiến ở nước ta. Trong đó triều Hậu Lê kéo dài nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến ở Việt Nam.

“Người nào tình nguyện theo học, đầu xuân đem trầu cau trình với dân, được trừ tạp dịch để trọng nho phong” 4.

Về tôn giáo, hầu như làng nào cũng lập chùa thờ phật, có những ngôi chùa nổi tiếng như: chùa Hương, chùa Bún, chùa Hón... song không thấy xuất hiện những nhà sư đạo học cao vời, những cơ sở từng là trung tâm truyền bá giáo lý như ở các huyện Đông Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc,... Dường như quan niệm “thứ nhất tu tại gia”... vẫn phổ biến, cho nên Phật giáo ở Thọ Hải gắn bó với thế tục hơn tìm đường thoát tục. Đạo Mẫu không có điều kiện phổ cập, mặc dù Liễu Hạnh công chúa

Bia ghi: Từ chỉ dựng giữa vùng sông Lương, Lũng Thuần, Ngọc Khuê, thuộc 7 xã có 14 thôn, từ năm Đinh Tỵ, Chính Hoà triều Lê đã có Đỗ Viết Hồ người Xuân Phố đậu Tiến sỹ, đậu hương tiến hơn ba chục vị, chi phí hết hơn 400 quan tiền, do Đức Hợp, tú tài, học trò và dân Bái Trạch cung tiến.

Bia khai quốc công thần Lê Văn Linh

Tổ tiên trước của Lê Văn Linh làm quan tới Nhập Nội đại hành khiển(,) Dhong Huyện Thượng hầu, mất ngày 14 tháng 6 năm 1389 năm Quang Thái thứ 2 dời Trần; đến ông Trần Phong cũng làm quan cuối triều Trần. Khi Hồ Quý Ly chuyên quyền, ồng liền trở về bản hương đi đó đây chơi thăm sông

3.Những người con ưu tú của Thọ Hải

Lê Văn Linh: xuất thân từ một gia đình quý tộc, nhiều đời khoa bảng. Tằng tổ[3] của Lê Văn Linh quê ở xã Bảo Đà, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, xứ Thanh Hoa, làm quan dưới triều Trần, giữ tới chức Binh Bộ thượng thư. Đến triều Lê được truy phong Kiềm Quốc Công. Ông nội húy là Hiêu, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Dần (1338) niên hiệu Khải Hựu thứ 10, đời vua Trần Hiển Tông nhưng cụ không làm quan mà nhàn du sơn thuỷ. Một hôm, cụ Hiêu đi đến làng Hải Lịch[4] thấy một hình đất lạ, cụ đi đi lại lại xem xét tỉ mỉ và tìm được chính huyệt của ngôi đất ấy, bèn phân kim lập hướng và di chúc lại cho con cháu là lấy ngôi đất ấy làm mộ địa cho cụ khi trăm tuổi. Năm sau, ngày 14 tháng 4, cụ Hiêu mất[5], con trai cụ là Phong đã mai táng cụ ở nơi đất ấy. Đến đời Lê Nhân Tông cụ Hiêu được truy tặng Huyện Thượng Hầu, tước Quận Công.

Cha đẻ của Lê Văn Linh tên là cụ Trần Phong, đỗ tiến sĩ hội nguyên khoa năm Mậu Tuất, niên hiệu Đại Trị thứ nhất (1358) đời vua Trần Dụ Tông[6]. Cụ Phong mất ngày 10 tháng 4 (gia phả không ghi năm sinh, năm mất), an táng tại xứ đồng nhà. Đến đời vua Lê Nhân Tông được truy phong là Lương Quận Công. Cụ Phong sinh được một người con trai đặt tên là Lê Văn Linh.

Lê Văn Linh sinh năm Đinh Tỵ, niên hiệu Xương Phù thứ nhất (1377), đời vua Trần Phế Đế. Ông là người nổi tiếng thông minh, đĩnh đạc, học rộng, hiểu sâu, tính tình hòa nhã, nét đất khôn thường, tính trời đĩnh ngộ, văn như rồng ngâm, hổ rống, lời nói như phượng hót chim ca. Lại là nhà nho thông cả kinh sử, thiên văn, địa lý, giỏi về y học, nhâm, cầm, độn, toán. Lê  Văn Linh từ nhỏ đã có tiếng văn học.

Lớn lên, gặp buổi nhà Trần suy vong rồi Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần, nhân đó nhà Minh lại sang xâm chiếm nước ta với cớ phù Trần diệt Hồ. Do thời thế nhiễu nhương nên Lê Văn Linh không đi thi mà ở nhà mở trường dạy học. Tương truyền, lúc bấy giờ làng Hải Lịch thường bị hổ từ trong rừng ra hại người và bắt súc vật, Lê Văn Linh đã làm một bài văn đuổi hổ. Từ đó hổ lãng xa, không dám về làng hại người và súc vật nữa.

Năm lên 16 tuổi, cụ Lê Phong gọi Lê Văn Linh đến bảo: “Nhà Trần suy yếu, Hồ Quý Ly chiếm ngôi vua làm loạn nước nhà, nhân dân đã phải sống khổ cực lầm than nhiều năm. Vậy nên nhà Minh đã sang xâm lược nước ta, gây nên nạn binh đao, trước tình cảnh ấy ai cũng phải đau lòng. Cha hận cho tuổi già, sức yếu, không thể vì nước xông pha diệt giặc. Nay con sinh ra trong buổi loạn lạc, chớ vì yếu đuối mà thoái chí Thanh Vân. Há chẳng thấy Chương Lương, Trần Bình xưa giúp nhà Hán mà tên tuổi đã ghi vào sử sách sao? Huống chi, ban đêm ta xem thiên tướng, thấy Đế Tinh chiếu ở đỉnh núi Lam Sơn, ý rằng Lam Sơn động chủ hẳn là thánh nhân, con hãy đi theo ngài”.

Ngày mồng 3 tháng Giêng năm Quý Mùi (1403), Lê Văn Linh tìm đến Lam Sơn gặp động chủ. Biết Lê Lợi là một người anh hùng, có tài lại mưu lược, ông cho rằng Lê Lợi có thể làm một vị minh chúa, bèn theo dưới trướng và thường qua lại bàn luận thế sự.

Ngày 12 tháng 3 năm Bính Thân (1416), tại Mường Giao Lão, Lê Lợi đã cùng 18 người bạn đồng chí hướng chích huyết tế cáo trời đất, nguyện một lòng đánh giặc cứu nước. Lê Văn Linh là người đứng đầu trong số ba văn thần có mặt trong hội thề và là người đứng thứ 4 trong số 19 người tham dự hội thề sau Lê Lợi, Lê Lai và Nguyễn Thận1.

Bấy giờ ở làng Hào Lương có tên Đỗ Phú, vì có thù riêng với Lê Lợi nên đã mật báo với giặc Minh việc Lê Lợi cùng một số người tập hợp nghĩa sĩ chống lại giặc Minh. Do đó nghĩa quân nhiều lần đã bị giặc Minh bức bách. Lại có tên Lương Nhữ Hốt người huyện Cổ Đằng, làm tham chính nguỵ quân cũng mật báo với giặc Minh rằng: “Chúa Lam Sơn chiêu nạp những kẻ lưu vong làm phản, lại chiêu hiền đãi sĩ rất hậu, chí của người ấy tất không nhỏ. Không sớm trừ khử đi để tránh hậu hoạ, nếu để con cá gặp mưa thì khi ấy sẽ không còn là con cá trong ao nữa.” Giặc Minh tin lời Nhữ Hốt nên càng bức bách nghĩa quân. Trước tình hình đó, Lê Lợi bèn hội các tướng sĩ lại bàn và định ngày khởi binh.

Ngày mồng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), tại núi rừng Lam Sơn, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương. Lê Văn Linh cùng Bùi Quốc Hưng và Nguyễn Tiến bấy giờ là 3 văn thần của nghĩa quân dưới trướng của Lê Lợi, vạch ra sách lược giúp Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh và được Lê Lợi uỷ thác tất cả các việc quân cơ nội vụ.

Tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), khi Lê Lợi tiến đại quân ra Bắc đánh thành Đông Đô đã cử Lê Văn Linh cùng các tướng Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Lãnh, Bùi Quốc Hưng ở lại vây hãm thành Nghệ An. Tháng Giêng năm Đinh Mùi (1427), quân Minh ở hai thành Nghệ An và Diễn Châu đầu hàng. Khi Lê Lợi vây thành Đông Đô, Lê Văn Linh đã dâng mật kế hãm thành khiến quân Minh phải đầu hàng.

Mùa xuân năm Mậu Thân (1428), sau khi đất nước hoàn toàn độc lập, Lê Lợi lên ngôi hòa đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất, khi xét công ban thưởng cho các công thần, binh sĩ. Lê Văn Linh được vinh phong là Bình Ngô khai quốc, Hiệp mưu bảo chính đại công thần, Nhập nội kiểm hiệu Bình chương quân quốc trọng sự thiếu bảo, tước Khánh An hầu. Ông là người đứng hàng thứ 8 trong số 35 vị Bình Ngô khai quốc đệ nhất công thần1, được Lê Lợi tự tay ngự danh và cất trong dương vàng.

Ngày 3 tháng 5 năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429), Lê Thái Tổ ban biển ngạch công thần khai quốc cho 93 người. Lê Văn Linh đứng hàng thứ 6 với tước Hương thượng hầu. Cùng năm đó, nhà vua cho đúc quốc ấn, sai Lê Văn Linh về tấu cáo Thái miếu ở Lam Kinh.

Đến tháng 11 năm Ất Mão niên hiệu Thiệu Bình thứ 2 (1435), Hữu Bật Lê Văn Linh làm Tham đốc cùng tổng quản Lê Bôi, đốc xuất năm đạo quân và hai vạn binh lính ở Nghệ An đi đánh tên phản nghịch Cầm Quý ở Châu Ngọc Ma và bắt sống được Cầm Quý đóng cũi đưa về kinh thành xử tội.

Tháng 6 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Thiệu Bình năm thứ 4 (1437), Tư đồ Lê Sát bị buộc tội lộng quyền, giết hại công thần. Thái phó Lê Văn Linh cùng Lê Ngân, Lê Văn An ra sức cứu gỡ cho Lê Sát nhưng Thái Tông không nghe. Vì tính tình ngay thẳng, không a dua nên Lê Văn Linh đã bị buộc tội và bị tước bỏ biển công thần, giáng xuống làm hữu Bộc xạ. Đến tháng 8 năm ấy, Lê Văn Linh được thăng chức Tri từ trọng sự rồi phục chức Thái phó như cũ.

Tháng 3 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), triều đình mở khoa thi hội lấy tiến sĩ, Lê Văn Linh được bổ chức Đề hiệu1.

Đến tháng 4 năm đó, Thái Tông đi tuần thú phía Đông, không may bị bạo bệnh băng hà ở vườn vải huyện Gia Định. Ngày 12 tháng 8, Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ nhận di mệnh cùng Đinh Liệt, Lê Bôi tôn Thái tử Bang Cơ lên ngôi, bấy giờ vua mới hai tuổi. Lê Văn Linh phụng mệnh vua hộ vệ linh cửu Lê Thái Tông về táng ở Lam Sơn2, sau đó ông được gia phong là Bình Ngô khai quốc khởi nghĩa...Vua Lê Nhân Tông suy tưởng đến công lao của Lê Văn Linh nên đã truy phong cả bốn đời đều là tước công, tước hầu. Gia phong tằng tổ, nguyên Binh bộ Thượng Thư triều Trần là Kiềm quốc công, hiển tổ3 được ấm phong là quận công, huyện thượng hầu. Cha Lê Văn Linh được ấm phong là Lương quận công.

Sau chuyến ngự giá về bái yết Thái miếu ở Lam Kinh vào tháng 3 năm Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hoà thứ 6 (1448), để ghi nhớ đến công lao của Khai quốc công thần Lê Văn Linh, vua Lê Nhân Tông đã tiến phong cho ông chức Nhập nội Thái sư, tham dự triều chính, kiêm tri hải tứ đạo. Lúc này Lê Văn Linh đã 72 tuổi.

Ngày 7 tháng 4 năm Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hòa thứ 6 (1448), đời vua Lê Nhân Tông, Lê Văn Linh mất. An táng tại xứ đồng Cồn Vị xã nhà, được truy tặng là Khai phủ, lại ban tên thụy là Trung Hiếu. Vợ ông thụy là Ngọc Tuy quận phu nhân, được gia phong là Đại phu nhân.

 Có hiệu là Mai Trai, người làng Hải Lịch, huyện Lôi Dương, nay là thôn Đông Phương Hồng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Xuất thân là một thầy giáo nông thôn, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, có tên trong 18 người dự hội thề Lũng Nhai. Ông cùng với Nguyễn Trãi, là mưu thần của Lê Lợi, có công trong sự nghiệp giải phóng đất nước, được phong tước Khánh Thượng hầu, giữ chức Nhập nội Thiếu phó. Ông có tham gia chiến dịch, cùng Lê Bôi đi đánh Cầm Quí ở châu Ngọc Ma (1435) được toàn thắng.

  Lê Văn Linh là người cứng cỏi, thẳng thắn làm quan ba đời vua Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông. Khi Lê Sát bị giết, chỉ có ông dám can ngăn, mặc dầu vì thế mà bị giáng chức. Sau này, ý kiến của ông là đúng.

  Lê Văn Linh không lưu lại tác phẩm nào. Nhưng sử sách có ghi rằng hồi ở quê làng, ông thấy cọp thường về quấy phá, nên đã làm bài Văn trách hổ, làm cho hổ bỏ đi. Câu chuyện tương tự như Hàn Dũ ở Trung Quốc và Hàn Thuyên ở nước ta làm văn đuổi cá sấu. Do tình cờ, hay do nguyên nhân nào đấy mà đuổi được hổ và ông đã trở nên nổi tiếng.

  Gia đình Lê Văn Linh có truyền thống văn học và tham gia chính sự. Các con ông: Lê Hoằng Dục là một nhà thơ, là bạn xướng họa với Lê Thánh Tông, có đi sứ Trung Quốc. Lê Cảnh Huy và Lê Năng Nhượng đều làm quan đến Quốc công.

  Nhân dân địa phương vẫn truyền tụng về Lê Văn Linh với tư cách là một thầy giáo. Đa số thanh niên được ông dạy dỗ đã trở thành tướng tài hoặc binh sĩ trong trại Lam Sơn. Vào Như Áng với Lê Lợi, ông cũng được giao việc dạy dỗ con cháu các gia đình nghĩa sĩ. Khi nhà Lê mở nước, tổ chức khoa thi, ông được cử làm Đề điệu (chủ khảo) cùng chấm với Nguyễn Trãi, lấy Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên (1442). Văn bia viết về ông còn cho biết Nguyễn Trực, Lương Thế Vinh (?) đều là học trò của ông.

 Trải 3 đời vua từ Thái tổ cao hoàng đế Lê Lợi , Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, Lê Văn Linh luôn luôn tận trung một lòng thờ chúa. Cuộc đời làm quan của ông khi thăng, khi trầm bởi đức tính ngay thẳng, không a dua, xu nịnh mà cam chịu khiển trách.

Lê Văn Linh là vị công thần khai quốc, vị nguyên lão làm quan trải ba đời vua. Là người tính thâm trầm, chí lược, khí tiết, am hiểu chính sự, thường có những lời bàn sáng suốt, khi tham dự triều chính. Suy xét mọi việc thấu tình đạt lý trước khi đưa ra phán quyết.

Khi Thái Tổ ngự danh ban thưởng cho các công thần khai quốc Lê Văn Linh được phong là Khánh An hầu, do mưu điệp văn quốc sự. Lê Văn Linh có 3 người con trai thì cả 3 đều làm quan. Người con trưởng là Lê Doãn Túc, giữ chức Thừa tuyên sứ  ở đạo Kinh Bắc.

Thứ là Lê Cảnh Huy. Năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466), được thăng chức Nhập nội Tả đô đốc kiêm thái tử thiếu bảo, giữ chức Hộ bộ Thượng thư, được phong Phụ tán công thần, gia phong Thái phó Kiềm quận công.

Con trai thứ 3 là Lê Hoàng Dục, một người học rộng lại uyên thâm, hay thơ phú, chơi thân với vua Lê Thánh Tông từ khi Vua còn làm Bình Gia vương. Khi Thánh Tông lên ngôi, Vua đặc ban cho ông là Tiến sĩ cập đệ, được thăng chức Binh bộ Thượng thư Nhập nội Tả bộc xạ kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Lâm Giang bá. Sau vinh thăng Lại bộ Thượng thư kiêm lực bộ Nhập nội Tả bộc xạ Tham tri chính sự, Thái bảo, tước Trung quận công. Lê Hoàng Dục từng  được đi sứ Trung Hoa, thiết lập đồng trụ giảng hoà vói Bắc triều, phân chia ranh giới Nam - Bắc, bảo vệ quốc thể. Sau lần đi sứ về ông được thăng chức Vinh phụ quốc, tán trị, Thôi trung hiệp lực, Đồng đức đề mưu công thần, Lễ bộ Thượng thư kiêm trưởng lực bộ sự Bình Ngô đại tướng quân, Thái bảo, tước Cường quận công.

Sau này hậu duệ dòng tộc Lê Văn Linh có nhiều người làm quan ở hai triều Lê, Nguyễn và đã đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài, trí lực.

Năm Kỷ Dậu (1489), niên hiệu Hồng Đức thứ 20, Lê Văn Linh được vua Lê Thánh Tông gia phong là Thượng đẳng phúc thần, Minh nghi quảng bác, Kinh văn vĩ võ, Mậu đức phong công, Hồng lược anh linh, Tế thế an dân, Bảo chính đại vương, ban thụy là Trung Hiếu.

Trong phần nhân vật chí của sách Đại Nam Nhất thống Chí, Sử thần Phan Huy Chú đã liệt Lê Văn Linh vào một trong số tám người phò tá có công lao tài đức thời Lê . Phan Huy Chú nói về ông như sau: “… Lúc nhỏ đã có tiếng văn học. Nghe Thái Tổ còn thời kỳ bí mật ở núi Lam Sơn, ông hăng hái về theo. Năm Mậu Tuất (1418), vua dấy binh, ông cùng Nguyễn Trãi ở luôn bên cạnh, bàn mưu thần trong màn tướng, tính toán vận trù quyết thắng thường tỏ công lao. Khi vua vây thành Đông Đô, ông bày mưu kín lấy thành, người Minh kế đã cùng phải xin hàng. Rồi Vương Thông về nước, trong nước hoàn toàn yên định… Ông là người rất cứng cỏi, thẳng thắn, có khí tiết. Ở ấp ông, thường có hổ bất thần xuất hiện hại người, ông làm bài văn trách hổ, hổ đều tránh xa. Bấy giờ người ta ví ông như Hán Dũ…”1. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng nói về ông như sau: “...Văn Linh là công thần khai quốc có khí tiết. Đến đời Gia Long, Lê Văn Linh được liệt vào hàng công thần khai quốc nhàbậc thứ nhất, miễn lao dịch cho một người cháu để giữ việc thờ tự”2.

Lê Đình Ngang: Theo sách Lam Sơn thực lục (Lê Văn Uông dịch, Nguyễn Diện Niên khảo chứng) cho biết: “Nếu căn cứ vào đoạn chép ở Trùng San Lam Sơn thực lục vào năm Quý Mão (1423) ” thì Lê Ngang là con của Lê Khả Lãng[7].

Theo Phả ký chi thứ họ Lê Đình ở thôn Công Thành - xã Thọ Hải cho biết: Lê Đình Ngang, thụy là Phúc Tín, là em của Tự Quốc Công, chú của Nghĩa Trinh Quốc công, con út của Kinh Xuyên hầu. Ông là người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được phong là Bình ngô khai quốc công thần. Khi đất nước giải phóng, Lê Đinh Ngang có những thời kỳ làm quan trong vương triều nhà Lê đã không làm tròn vai trò vị trí của mình nên cũng bị nhà vua phê phán.

Tuy nhiên, do công lao của Lê Đình Ngang trong cuộc kháng chiến chống Minh là to lớn đối với dân tộc và đất nước đương thời, vì vậy khi ông mất (ngày 23/9 năm Chính Trị thứ 6 đời Anh Tông (1563), nhà nước phong kiến vẫn phong sắc cho Lê Ngang làm phúc thần của làng Công Thành, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá: “Từ xưa thờ phụng Tuấn Mại cương trung dực bảo Trung hưng, Bình Ngô Khai quốc công thần, Đại truyền đôn quận công trung đẳng thần, Thần có công giúp nước, giúp dân, ngầm hiển ứng, từng được ban cấp sắc phong cho phép địa phương thờ phụng. Khi vua Khải Định thọ 40 tuổi đã thăng lên một bậc, tặng mỹ tự “ Trác vĩ thượng đắng thân ” cho phép địa phương thờ phụng để ghi vào điển lễ Quốc gia. (sắc được phong vào niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924)”

Bức thần vị ở nhà thờ họ Lê Đình cũng chép: Khai quốc công thần Thượng đẳng Đại vương Lê Ngang, khuông quốc, phù vận, tán trị, tế thử, khang dân, đốc bật tá tích kiêm văn thần vũ, dương hưu, hiển (?) vĩ tích phong công hùng tài đại lược tráng liệt, Tuấn mại Cương trung Dực bảo Trung Hưng.

Lê Liệt: Trong sách Đại Việt sử kỷ toàn thư viết về Lê Liệt cho biết: ông là người tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vào tháng 2 năm 1423: “vua muốn đánh thành Nghệ An... chấn chỉnh binh tượng, tiến quân bao vây thành Nghệ An, quân sắp đi, vừa lúc có tin báo quân Minh đã sắp đặt voi, ngựa, thuyền bè, tiến quân cả hai đường thủy, bộ, định ngày mai sẽ tới. Vua chia hơn 1.000 quân, cho bọn Lê Liệt đi đường đóng giữ huyện Đỗ Gia (nay là đất huyện Hương Sơn - tỉnh Hà Tĩnh). Vua đưa thêm chỉ huy đại quân giữ chỗ hiểm yếu để đợi chúng. Trong trận đánh này “quân giặc bị chém đầu và chết tới hàng vạn tên”.

Ngày 18 năm Đinh Mùi (1427): Vua sai Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Lê Liệt, Lê Thụ đem 1 vạn quân tinh nhuệ, 5 thớt voi bí mật mai phục trước ải Chi Lăng để đợi giặc[8].

Ngày 3 tháng 5 năm Mậu Thiên thứ 2 (1429), Lê Liệt được vua ban biển nghịch công thần cho 93 viên, Lê Liệt được xếp ở hàng Đình Thượng Hầu với 14 người khác[9].

Sau cuộc kháng chiến chống Minh, Lê Liệt còn tham gia xây dựng và củng cố nhà nước Đại Việt, nhưng tháng 12 năm Canh Thìn (Quang Thuận năm thứ nhất - 1460), sai Thái phó Lê Liệt, Thái phó Lê Lựu, Thái bảo Lê Lãng dẫn các quân chia đường đi đường để đánh họ cầm (tức họ Lư cầm, tù trưởng Bồn Man)[10]

Ở bức Thần vị được lưu giữ tại Nhà thờ họ Lê Đình thì Lê Liệt được ghi như sau: "khai Quốc công thần Thượng đẳng thần Đại Vương Lê Liệt, cao huân hồng liệt bác đạt minh mẫn, đoàn trạch lượng công tuyên hiến, Hoằng Hoá, Đốc khảnh tuy lộc, hiển ứng trạc lỉnh, phong công tuấn liệt tập phúc nghênh tường, địch khang tuấn mại, cương trung dực bảo Trung Hưng".

Lê Dũng Liêm: Theo các cụ trong dòng họ Lê Đình cho biết: Lê Dũng Liêm là phúc thần của làng được thờ tại đình làng, sau khi đình bị phá dỡ dòng họ Lê Đình đã đem sắc phong và bát hương về thờ tại nhà thờ.

Lê Dũng Liêm làm quan dưới triều Hậu Lê, ông được phong chức Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân ở phủ Trấn Ninh, tước kinh xuyên hầu. Khi mất ông được phong làm phúc thần của làng, sắc cho thôn Công Thành, phủ Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá. Từ xưa thờ phụng Lê triều Đặc tiến phụ quốc phấn lực tướng quân, Trấn Ninh phủ, Kinh lược đại sử, Kinh xuyên hầu Lê Dũng Liêm phủ quân tôn thần.

Thần có công giúp nước yên dân, ngầm hiển linh ứng. Nay chính lúc Trẫm mừng thọ tuổi 40 nên làm lễ lớn ban ơn, thăng lên một bậc, phong cho thần mỹ tự: Dực bảo trung hưng linh phù tôn thần. Cho phép địa phương phụng thờ thần như cũ để thần bảo vệ cho nhân dân của ta. Kính vâng lấy lời. Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định thứ 9(1924).

Lê Hoằng Đạt: là phúc thần của làng trước đây được thờ tại đình làng, sau khi đình bị phá dỡ con cháu dòng họ Lê Đình đã đem sắc phong, bát hương về thờ tại nhà thờ. Ông làm quan dưới vương triều Hậu Lê, ông được phong chức Đặc tiến phụ quốc tướng quân, Tổng tri, Tư ân, tước An Xuyên Bá, khi mất được triều đình phong kiên phong làm phúc thần.

Sắc cho thôn Công Thành, phủ Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá. Từ xưa thờ phụng Lê triều Đặc tiến Phụ quốc tướng quân Anh Đức Vệ, Tổng tri Tư Ẩn, An Xuyên Lê Hoằng Đạt phủ quân. Thần có công giúp nước yên dân, ngầm hiển linh ứng. Nay chính lúc Trẫm mừmg thọ tuổi 40 nên làm lễ lớn ban ơn, thăng lên một bậc, phong cho thần mỹ tự: Huy Vĩnh Bảo trung hưng linh phù thần. Cho phép địa phương phụng thờ thần như cũ để thần bảo vệ cho nhân dân của ta. Kính vâng lấy lời. Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định thứ 9(1924).

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG II

THỌ HẢI ĐẦU THẾ KỶ XX  ĐẾN NĂM 1945

I.       CHÍNH SÁCH CAI TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP

1.      Phong trào cách mạng của Thọ Hải đầu thế kỷ XX

Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương bị thất bại, thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta, thực hiện chính sách cai trị dã man. Chúng thực hiện chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành ba kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ), đặt mỗi kỳ một chế độ cai trị khác nhau. Tỉnh Thanh Hóa thuộc Trung kỳ, nằm dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn trực tiếp cai trị.

V quản lý hành chính, bên cạnh tòa Công sứ (cơ quan bảo hộ của thực dân Pháp ở tỉnh) là bộ máy cai trị của Nam triều gồm có Tổng đốc, Án sát, Bố chính, Lãnh binh. Bên dưới là Phủ, Huyện, Châu, do các Tri phủ, Tri huyện, Tri châu người Việt đứng đầu, cùng một số Nha lại, đội lính quản lý các mặt hành chính, pháp lý, an ninh xã hội. Chính quyền cơ sở gồm tổng, làng, xã do Cai tổng, Phó tổng, Lý trưởng, Phó lý đứng đầu, có các Hương chức và Trương tuần giúp việc, về danh nghĩa, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân phong kiến ở Thanh Hóa mang tính lưỡng hệ, nhưng thực chất mọi quyền hành đều tập trung vào tay thực dân Pháp, mà đại diện là tòa Công sứ còn chính quyền phong kiến Nam triều được thực dân Pháp duy trì để làm tay sai và để lừa bịp nhân dân.

Vì vậy, đời sống, của nhân dân, trong tỉnh chịu cảnh đè nén áp bức bóc lột gấp đôi, một bên là chính quyền thực dân Pháp, một bên là chính quyền phong kiến Việt Nam.

Cùng với sự đoạt quyền tự do dân chủ, chính quyền thực dân phong kiến còn thẳng tay đàn áp đẫm máu các cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Chúng sử dụng bạo lực chính trị và quân sự chia rẽ tôn giáo, dân tộc, làm suy yếu khối đoàn kết dân tộc của nội bộ nhân dân để dễ bề cai trị.

Ngay từ khi đặt chân lên đất nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, tước đoạt tiền của bằng thuế khóa, phu phen tạp dịch... biến nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế phụ thuộc chính quốc (nước Pháp). Đối với tỉnh Thanh Hóa, một tỉnh đất rộng người đông, giàu tài nguyên thiên nhiên, thực dân Pháp vơ vét những gì có thể vơ vét được với tốc độ, quy mô ngày càng tăng.

Từ khi đặt chân lên đất nước ta, thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân ta, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trong cả nước. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, các sỹ phu yêu nước ở Thanh Hóa đã nổi lên chống thực dân Pháp. Nga Sơn có cuộc khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt; Vĩnh Lộc có cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân, Bá Thước có cuộc khởi nghĩa của Hà Văn Mao; Thường Xuân có cuộc khởi nghĩa của Cầm Bá Thước...

Là một vùng quê có bề dày về lịch sử và văn hóa. Thọ Hải có: làng Hương, làng Bún[11], làng Hóa (Hón), làng Rạch, làng Công Thành, làng Mậu Công nay gọi là làng Hải Mậu) có nhiều sỹ phu tham gia Cần Vương chống Pháp.

Ngày 01 tháng 8 năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, đây là cuộc chiến tranh của các nước đế quốc nhằm tranh giành thuộc địa và phân chia lại thị trường thế giới. Toàn quyền Đông Dương lập tức tuyên bố: “Nhiệm vụ của Đông Dương là phải cung cấp cho chính quốc (nước Pháp) đến mức tối đa nhân lực, vật lực, đồng thời phải duy trì an ninh trật tự ở thuộc địa...”

Năm 1918, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc; tuy là nước thắng trận nhưng nền kinh tế nước Pháp bị tàn phá nặng nề, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải bị đình đốn, giảm sút nghiêm trọng. Đến đầu năm 1920, số nợ quốc gia của Pháp đã lên 300 tỷ phơ-răng, cho Sa Hoàng (Nga) vay 14 tỷ phơ-răng bị mất trắng, phần lớn số vàng dự trữ ở Pari không cánh mà bay sang NewYork (Mỹ) và Luân Đôn (Anh).

Để hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi khục và củng cố địa vị của mình trong thế giới tư bản chủ nghĩa, các tập đoàn tư bản tài chính Pháp một mặt tăng cường bóc lột quần chúng lao động ở Chính Pháp, mặt khác đẩy mạnh đầu tư khai thác các xứ thuộc địa, trong đó có Đông Dương (Việt Nam - Lào - Căm Pu Chia), khu vực này được Pháp xem là thuộc địa “quan trọng nhất, phát triển nhất và giàu có nhất” trong tất cả các xứ thuộc địa của Pháp trên thế giới. Tính đến năm 1929, Pháp đã đầu tư vào nước ta 50 công ty nông nghiệp, 46 công ty công nghiệp, 19 công ty khai thác mỏ, 31 công ty thương nghiệp với số vốn đầu tư lên đến 4 tỷ phơ-răng1. Tính đến năm 1930, thực dân Pháp đã chiếm ruộng đất để làm đồn điền lên đến 1,2 triệu ha, bằng ¼ diện tích canh tác của nước ta thời bấy giờ.

Ở Thọ Xuân, Pháp mở nhiều đồn điền như Phúc Địa, Mã Hùm, Điền Trạch, Vạn Lại. Nguồn lao động phục vụ cho các đồn điền này chủ yếu ở Thanh Hóa và các tỉnh ngoài Bắc như: Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, nhân công được trả những đồng lương rẻ mạt. Nhiều người Thọ Hải đã đi làm phu ở các đồn điền, hầm mỏ, nhưng cuối cùng vẫn phải quay về quê hương, có người một đi không trở lại.

Đầu thế kỷ XX, xã Thọ Hải với số dân khoảng hơn 2.500 người, chủ yếu là nông nghiệp, một số ít làm nghề buôn bán nhỏ; diện tích canh tác 746 mẫu2, trong đó ruộng công điền đã chiếm 52 mẫu. Do diện tích ít nên phải xâm canh ở các làng khác như Hương Nhượng làm ruộng ở Diên Hào, Bàn Cáo, Tân Lâm, Quân Ngọc, làng Quần Lai - Quần Đội làm thêm ruộng ở các làng Phấn Thôn, Hương Nhượng, Hội Thôn, Tuy Lai. Làng Bún tuy người thưa đất rộng nhưng lại bị địa chủ chiếm đoạt gần 50% diện tích (ruộng của án sát ....50 mẫu, địa chủ trong làng và các làng khác xâm chiếm hơn 50 mẫu), số công điền nằm gọn trong tay cường hào lý dịch, nhân dân không được chia chút nào.

Về quản lý hành chính, cho đến đầu thế kỷ XX, các làng Hương, làng Bún, làng Hóa (Hón), làng Rạch, làng Phấn Thôn, làng Công Thành, làng Mậu Công nay gọi là làng Hải Mậu thuộc tổng Diên Hào, huyện Thọ Xuân. Đứng đầu mỗi làng là Lý Trưởng, giúp việc cho Lý Trưởng là Phó Lý và ngũ vị hương như Hương Kiểm, Hương Bạ, Hương Bản, Hương Mục và Hương Nông. Mỗi làng lại có 4 tổ chức gọi là 7 nóc làng: Nóc quan viên gồm những người là quan lại, viên chức, học hành đỗ đạt, người có quyền thế, giàu có, có phẩm hàm. Nóc Hương lão gồm những người cao tuổi trong làng. Nóc Viên binh gồm các võ quan binh lính đã thôi việc về làng. Nóc Chức dịch gồm Lý trưởng, phó lý và các chức dịch đang tại chức. Những người được vào 4 nóc làng này gia đình phải khá giả giàu có để khao vọng (vô vọng bất thành quan). Những người tuổi đã cao nhưng không có tiền khao vọng làng vẫn bị coi là bạch đinh. Sự khao vọng và các hủ tục lạc hậu cùng với sưu cao thuế nặng đã đẩy cuộc sông nhân dân ngày một bần cùng hóa. Thuế thân (sưu) con trai từ 18 tuổi trở lên phải đóng 2,3 đồng một năm (tương đương một tạ gạo thời bấy giờ). Vì vậy, mặc dù người dân Thọ Hải cần cù lao động, nhất là tầng lớp phụ nữ, đầu tắt mặt tối làm lụng nuôi chồng, nuôi con nhưng do nền sản xuất nông nghiệp manh mún, lạc hậu, lại thường xuyên gặp thiên tai hạn hán bão lụt, sâu bệnh nên cơm không đủ no, áo không đủ ấm.

Cùng với sự bóc lột về thuế khóa, phu phen tạp dịch, chính quyền thực dân Pháp còn thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị. Cả Phủ Thọ Xuân chỉ có một trường Tiểu học dạy từ lớp 1 đến lớp 5. Ở Thọ Hải chỉ có con nhà khá giả mới được đến trường đi học. Trừ một số người biết chữ Nho (chữ Hán), còn lại đến 98% dân số trong xã mù chữ. Mãi đến năm 1922, cả tổng Diên Hào (9 làng) mới có một trường Tiểu học ở làng Quần Lai. ít lâu sau có thêm trường Tiểu học ở Quảng Thi ( Xuân Thiên) dạy tiếng Pháp. Đói nghèo, lạc hậu, bệnh tật phát sinh cùng với tệ nạn xã hội rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện đà đây phần lớn nhân dân các làng Thọ Hải đến cơ cực, bần hàn. Nhiều người không có đất phải đi ở nhờ, sự phản biệt giữa người bản xứ và dân ngụ cư cũng quá khắt khe, nặng nề. Cả phủ Thọ Xuân không có một bệnh viện. Người dân ốm đau phải uống thuốc Bắc, thuốc Nam hoặc cầu cúng. Ở phố huyện và các thị tứ như phố Đầm, Bái Thượng, Tứ Trụ và các tụ điểm khác rượu cồn, tiệm thuốc phiện, sòng bạc nổi lên nhan nhản. Và cùng với nạn mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu đâ đè nặng lên đôi vai người lao động. Thuần phong mỹ tục được thay thê bằng nền văn hóa suy đồi phản động, làm cho dân trí ngày càng ngu muội, sức khỏe bị suy thoái.

Mặc dù đời sống khó khăn nhưng các làng vẫn giữ được tục kết chạ giữa các làng nhằm đoàn kết các cộng đồng cư dân, giúp nhau khi khó khăn, lúc hoạn nạn, như làng Hương Nhượng kết chạ với làng Đon, làng Giá huyện Thường Xuân; làng Hải Mậu kết chạ với làng Tuy Lai (Xuân Hưng), Diên Hào (Thọ Lâm); làng Hón  kết chạ với làng Đầm (Xuân Thiên), làng Hồng Đô (huyện Thiệu Hóa)....Tuy nhiên, mâu thuẫn xã hội ngày một tăng, sự tranh chấp đất đai giữa các làng, tranh giành nhau chức Lý trưởng, Tiên chỉ trong làng...(1) mà người được lợi là tầng lớp hương lý, chức dịch, quan lại và tầng lớp chịu thiệt thòi là nông dân.

2.     Phong trào cách mạng ở Thọ Hải 1927 - 1930

Năm 1926, người Pháp hoàn thành hệ thống thủy nông sông đào Bái Thượng. Một số diện tích cấy lúa một vụ chuyển sang cấy hai vụ lúa một năm. Sông đào Bái Thượng cùng với sông Chu tạo thành hai tuyến giao thông đường thủy đi qua, và cùng với Tỉnh lộ 47 từ tỉnh lỵ Thanh Hóa lên Bái Thượng, Thường Xuân tạo cho Thọ Hải một lợi thế, tiềm năng để phát triển “nhất cận lộ, nhị cận giang". Tuy nhiên, với chính sách khai thác triệt để các nước thuộc địa bằng sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch nặng nề, cùng với các hủ tục lạc hậu như đình đám, ma chay, rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện... đã đẩy đời sống Nhân dân các làng Thọ Hải đến cùng cực.

Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân Pháp đã làm cho xã hội phong kiến Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến dẫn đến sự phân hóa xã hội sâu sắc mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ngày càng gay gắt, quyết liệt và đòi hỏi phải được giải quyết. Đó chính là nhu cầu tất yếu khách quan của cách mạng dân tộc, cách mạng xã hội Việt Nam nói chung, của phủ Thọ Xuân và các làng ở Thọ Hải nói riêng.

Phong trào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và Tân Việt (1927-1929); phong trào cách mạng đã lan rộng khắp nơi, thời kỳ này hai tổ chức cách mạng là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Đảng. Như tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội2 ở Thọ Hải có đồng chí Lê Xuân Sinh ở thôn Phấn Công; đồng chí Đỗ Ngọc Thành ở thôn Mậu Công tham gia tổ chức Đảng Tân Việt. Ông cụ thân sinh ra đồng chí Lê Xuân Sinh là cụ Lê Văn Cửu[12], cũng là người đã tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp; vốn sẵn có truyền thống yêu nước, lại có tinh thần bất khuất, khi làm tuần trưởng, ông luôn chống lại bọn quan lại nên bị cách chức. Sau khi bị cách chức, đồng chí lại ra nhập hàng ngũ cách mạng. Đồng chí Đinh Chương Dương (ở Hậu Lộc), cụ Đỗ Ngọc Nhĩ (ở Hoằng Hóa) giới thiệu đồng chí Lê Xuân Sinh vào tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội; sau khi thành Hội viên của Hội, đồng chí đã tích cực hoạt động, tuyên truyền, vận động rất nhiều quần chúng theo ở xã đứng vào hàng ngũ cách mạng tiêu biểu như: Đồng chí Đỗ Ngọc Thành ở làng Mậu Công[13]; xuất thân từ một gia đình nông dân, là một nhà nho nghèo, làm hương sư dạy trường làng, là đội viên của Đảng Tân Việt.

Tuy hai đồng chí ở hai tổ chức khác nhau nhưng cùng chung một mục đích là làm cách mạng để đánh đuổi thực dân Pháp giành tự do độc lập cho dân tộc. Vì vậy, hai đồng chí đã thường xuyên liên lạc với nhau, trao đổi kinh nghiệm vận động, tuyên truyền, giác ngộ cho quần chúng đi theo cách mạng. Vận động, quần chúng bài trừ mê tín dị đoan, chống tệ nạn xôi thịt; ở các thôn Mậu Công, Hải Khoát, Phấn Thôn, Công Thành đã có những cuộc chống xôi thịt, phản đối bọn hào lý bày trò cúng tế vọng sách ngôi thứ; có những cuộc Nhân dân, chống đối bọn hào lý ra mặt bằng kiện cáo bọn hào lý làm bậy. Qua các sự kiện Hội đã tuyên truyền, giác ngộ cho quần chúng, ảnh hưởng cách mạng đã lan rộng trong Nhân dân, nhiều quần chúng đã có cảm tình đối với cách mạng.

II. NHỮNG TỔ CHỨC CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN Ở Xà THỌ HẢI TỪ NĂM 1930 – 1938

1.Phong trào cách mạng ở Thọ Hải những năm 1930 - 1935

Thọ Xuân là một vùng quê có bề dày về lịch sử, văn hóa, có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất; vào những năm 1925 - 1926, nhiều thanh niên yêu nước ở phủ Thọ Xuân đã tìm đến đồng chí Lê Hữu Lập tham gia hội đọc sách báo, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng yêu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, hình thành nên các tổ chức cách mạng trên quê hương yêu dấu của mình.

Người có công đầu tiên trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về với nhân dân huyện Thọ Xuân là đồng chí Nguyễn Mậu Sung, người làng Quần Kênh, tổng Kiên Thạch1 Đồng chí Nguyễn Mậu Sung tham gia hội đọc sách báo ở Thanh Hóa và được tổ chức cử về huyện Thọ Xuân để truyền bá tư tưởng cách mạng.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Mậu Sung, đến cuối năm 1926, các tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Quần Kênh (Xuân Giang), Mỹ Lý (Bắc Lương), Thượng Vôi (Xuân Hòa) thuộc tông Kiên Thạch, phủ Thọ Xuân, làng Yên Trường, làng Yên Lược (tổng Quảng Yên, huyện Thiệu Hóa) đà được thành lập. Trong 2 năm 1927 - 1928, đồng chí Nguyễn Mậu Sung nhiều lần về các làng Thịnh Mỹ, Hải Trạch, Quần Đội, Quần Lai để tuyên truyền cách mạng.

Từ năm 1926, Thanh Hóa nói chung và phủ Thọ Xuân nói riêng có hai tổ chức cách mạng song song cùng hoạt động đó là Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập và Tân Việt cách mạng Đảng (Đảng Tân Việt).

Cuối năm 1928, theo kiến nghị của lớp đảng viên trẻ, Hội nghị đại biểu các chi bộ Đảng Tân Việt trong tỉnh được triệu tập tại phố Lò Chum, thị xã Thanh Hóa. Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành mới gồm 7 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Xuân Thúy - một đảng viên trẻ, người làng Phong Cốc, tồng Thử Cốc (nay thuộc xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân) được bầu làm Bí thư, tại Hội nghị đã quyết định hoạt động của Tân Việt theo đường lối chính trị của Thanh niên Cách mạng đồng Chí hội.

Cuối tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam được thành lập tại số nhà 5D - Hàm Long (Hà Nội). Tháng 5-1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên (ở Hương Cảng - Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập Đảng cộng sản, nhưng không được chấp nhận nên họ đã rút khỏi Hội nghị về nước và tiến hành vận động thành lập Đảng cộng sản. Trong bối cảnh đó các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời:

Để đánh đuổi ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho đất nước; các tổ chức cách mạng yêu nước được thống nhất lại và thành lập một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, vì vậy phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã phát triển; để hưởng ứng phong trào, thành lập Đảng và cho phát triển các tổ chức quần chúng, tập hợp quần chúng lại thành tổ chức Nông hội đỏ để đấu tranh; ở Thọ Hải tại Phấn Thôn, Công Thành đã bí mật tổ chức một hội tương tế (lấy danh nghĩa là họ hiếu nghĩa). Tổ chức này có 12 người do đồng chí Lê Xuân Sinh tổ chức và phụ trách. Mục đích của hội hiếu nghĩa là: đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn như ốm đau, bài trừ tệ nạn ăn uống, hội này đã được thực hiện vài đám. Hưởng ứng, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, các cơ sở đảng ở các địa phương đã tổ chức những hình thức như: treo cờ búa liềm, ban đêm kéo cờ chiêu quân.

Cơ sở Đảng ở khu vực Xuân Hội, xã Thọ Hải còn yếu nên kéo đèn chiêu quân vào đêm ở đồng Cánh Phượng[14] do đồng chí Sinh và đồng chí Đỗ  Ngọc Thứ[15] phụ trách; qua hình thức này tinh thần cách mạng của quần chúng trong vùng cũng được thức tỉnh.

 Sự ra đời của “Đông Dương Cộng Sản Đảng”: Ngày 17-6-1929, đại biểu các tổ chức cộng sản được thành lập ở các tỉnh Bắc Kỳ đã triệu tập một cuộc họp tại số nhà 312 Khâm Thiên (Hà Nội) quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản đảng. Hội nghị đã thông qua Chính cương, Tuyên ngôn, Điều lệ của Đảng, xuất bản báo Búa liềm và cử ra ban chấp hành trung ương lâm thời của đảng bao gồm Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung, Nguyễn Phong Sắc, Trần Tư Chính, Nguyễn Văn Tuân(Kim Tôn). Việc thành lập Đông Dương Cộng sản đảng đã ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng cả nước. Những thành viên tiên tiến trong Thanh niên, Tân Việt…đều hướng về xu hướng thành lập tổ chức cộng sản, một số gia nhập Đông Dương Cộng sản đảng, một số xúc tiến giải thể tổ chức cũ để thành lập đảng cộng sản.

Sự ra đời của “An Nam Cộng Sản Đảng”: Tháng 8-1929, các hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Trung Quốc và Nam kỳ cũng đã quyêt định thành lập An Nam Cộng Sản Đảng tại phòng 1, lầu 2, nhà số 1 đường Nguyễn Trung Trực (thời Pháp thuộc - năm 1929 là đường Philippin), phường Bến Thành, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 11-1929, ban chấp hành trung ương lâm thời của An Nam Cộng Sản Đảng đượcthành lập tại Sài Gòn do Châu Văn Liêm làm bí thư. Ban lâm thời chỉ đạo của Đảng có Châu Vǎn Liêm (tức Việt), Nguyễn Thiệu, Trần Não, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Sĩ Sách. An Nam cộng sản Đảng ra đời đã tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê Nin trong công nhân, nông dân, phát động phong trào đấu tranh chống khủng bố, chống chiến tranh đế quốc, ủnghộ Liên Xô và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh ở Nam Kỳ. An Nam cộng sản Đảng là một trong 3 tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của An Nam cộng sản Đảng có ý nghĩa lớn lao đối với cách mạng Việt Nam.

Sự ra đời của “Đông Dương Cộng Sản Đảng”: Sự ra đời và ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam CộngSản Đảng đã tác động mạnh mẽ đối với những đảng viên theo chủ trương cách mạng vôsản trong Tân Việt Cách Mạng Đảng. Ngày 01-01-1929 các đảng viên Tân Việt cách mạng đảng chịu ảnh hưởng của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã tiến hành Đại hội thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng gồm Trần Hữu Chương, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Nguyễn Xuân Thanh, Trần Đại Quả, Ngô Dức Đề, Ngô Đình Mãn, Lê Tiềm, Lê Tốn. Đại hội chưa kết thúc thì các đại biểu đã bị chính quyền Pháp bắt. Do vậy Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn chưa có Ban chấp hành trung ương. Địa bàn hoạt động chủ yếu của “Đông Dương Cộng sản liên đoàn” là ở các tỉnh BắcTrung Kỳ.

Như vậy trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã xuất hiện 3 tổ chức Cộng Sản Đảng. Sự ra đời của 3 tổ chức này phản ánh xu thế thành lập Đảng là tất yếu của phong trào cách mạng Việt Nam. Các tổ chức này đã nhanh chóng gây dựng cơ sở ở nhiều địa phương và trực tiếp tổ chức lãnh đạo.

Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã vạch ra sự cần thiết phải xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh mọi nhân tố của dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp chung giải phóng dân tộc.

 Qua phong trào cách mạng phản đế, phản phong sôi nổi trong cả nước mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, các tổ chức chính trị với các hệ tư tưởng khác nhau nhưng gặp nhau ở mục tiêu giải phóng dân tộc lần lượt xuất hiện với sự tham gia của nhiều tầng lớp, nhiều dân tộc. Quá trình này cũng khẳng định năng lực cách mạng của các giai tầng trong xã hội, khẳng định vị trí đặc biệt và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với việc định hướng cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Quá trình này cũng khẳng định khối liên minh công nông là cơ sở của Mặt trận Dân tộc thống nhất do Đảng chủ xướng. Trong Án nghị quyết về vấn đề phản đế tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10 năm 1930 đã được thành lập Mặt trận Thống nhất phản đế1.

Hot đng ca Vit Nam thanh niên cách mng đng chí hi và đng Tân Vit đang din ra sôi ni trên toàn huyn Th Xuân thì vào gia năm 1929, thc dân Pháp và chính quyn phong kiến tay sai tp trung khng b, đàn áp. Nhiêu cơ s ca Tân Vit b v. Nhiu cán b ch cht như Nguyn Xuân Thúy, Nguyn Văn H, Lê Huy Hoàng, Lê Trước, Lê Liên Vũ, Nguyn Duy Vn... b đch bt, b tù đày. các đa phương, bn lý dch tăng cường kim tra và thng tay đàn áp nông dân. Phong trào Tân Vit Th Hi tm thi lng xung.

Từ năm 1928, tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đã hoạt động khá mạnh cả về số lượng và chất lượng.

Để đáp ứng tình hình phát triển của tổ chức và phong trào cách mạng, tháng 6 năm 1929, các đồng chí trong tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Thọ Xuân đã tổ chức hội nghị thành lập phủ bộ. Đồng chí Nguyễn Mậu Sung được bầu làm Bí thư phủ bộ.

Ngoài việc tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho quần chúng nhân dân, lựa chọn kết nạp hội viên, do hoạt động tích cực của ban chấp hành phủ bộ, các chủ trương công tác của phủ bộ, tỉnh bộ đã thấm sâu, lan tỏa đến nhiều cơ sở, nhiều tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ra đời như ở Mậu Thôn (xã Tân Ninh), Phú Hào, Mỹ Hào (xã Thọ Phủ), Phú Liễn (Thọ Thế), nay thuộc huyện Triệu Sơn. Đây cũng là điều kiện để hai tồ chức Thanh niên và Tân Việt chuyển hóa và gia nhập Đảng Cộng sản.

Trước tình hình đó tháng 2 năm 1929, huyện bộ Tân Việt phủ Thọ Xuân do ông Lê Huy Hoàng làm Bí thư, phong trào mở rộng từ Vân Lộ (Thọ Nguyên), Vực Trung, Vực Thượng (Xuân Thành), Mỹ Thượng (Xuân Hòa), Bái Đô (Xuân Bái). Bên tả ngạn sông Chu lúc này thuộc phủ Thiệu Hóa, hoạt động của Tân Việt mở rộng ở các làng Xá Lê, Thuần Hậu, Ngọc Trung, Phong Cốc (Xuân Minh), Long Linh Nội, Long Linh Ngoại, Căng Hạ (Thọ Trường), Phúc Bồi (Thọ Lập), Canh Hoạch (Xuân Lai) sang đến Ngọc Vực, Phúc Tỉnh (Yên Định).

Đầu năm 1929, ông Lê Huy Hoàng (giáo Huỳnh) người làng Vân Lộ (Thọ Nguyên), ông Trịnh Văn Ty (Cựu Khai) người làng Quân Bình (Hạnh Phúc) là đảng viên Tân Việt về khu vực làng Diên Hào (Thọ Lâm), làng Hương (Thọ Hải) xây dựng tổ chức cách mạng. Hoạt động chính là kết nạp những quần chúng tiến bộ vào tổ chức, tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, gây ảnh hưởng sâu rộng của tổ chức trong quần chúng nhân dân, bài trừ các hủ tục lạc hậu, chống lại sự cường hào, hách dịch của địa chủ, lý dịch trong làng và vận động quần chúng nhân dân học chữ Quốc ngữ.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức cộng sản trong nước, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản chỉ đạo.

Thực hiện chủ trương của cấp trên tháng 3 năm 1930, tại nhà ông Lê Lam Châu làng Mỹ Thượng (Xuân Hòa), Hội nghị của Tân Việt được tiến hành gồm các ông Lê Lam Châu, Lê Huy Hoàng(1), Hà Duyên Đạt, Lê Đình Ân, ông Ty, ông Mơn và ông Nguyền Văn Hồ, người cùa Tỉnh bộ. Hội nghị bàn chủ trương chuyển hóa hoạt động của Tân Việt sang hoạt động theo đường lối Cộng sản. Ông Lê Lam Châu được bầu làm Bí thư Chi bộ.

Vào đầu năm 1930, phong trào đấu tranh cách mạng trong tỉnh phát triển mạnh. Vai trò lãnh đạo của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và Tân Việt đảng gặp rất nhiều khó khăn, bất cập và hạn chế. Trước yêu cầu cách mạng đòi hỏi phải có một tổ chức cương quyết, cách mạng triệt để lãnh đạo. Đó là tổ chức Cộng sản, bộ tổng tham mưu, đội quân tiên phong của giai cấp vô sản.

Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh lên cao, địch càng lồng lộn, khủng bố mạnh, các cơ sở Đảng ở Thanh Hóa bị vỡ, nhiều đồng chí và quần chúng cách mạng bị địch bắt. Tháng 12-1930, đồng chí Lê Xuân Sinh và con là Lê Xuân Sản, bị bọn mật thám bắt giam tại nhà lao Thanh Hóa. Sau một thời gian địch tra tấn hết sức dã man nhưng hai đồng chí vẫn không khai báo gì cả; lúc đó đồng chí Sản mới có 17 tuổi, chưa đến tuổi thành án nên bọn địch phải tha về, còn đồng chí Sinh thì bị kết án 3 năm tù và bọn địch đã đưa đồng chí đi nhà lao Ban Mê Thuột.  Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, quần chúng bị tù đày, bắn giết, các cơ sở đảng bị vỡ hầu hết, phong trào tạm lắng xuống.

Tháng 10-1933, đồng chí Lê Xuân Sinh hết hạn tù được thả tự do, đồng chí lại tiếp tục hoạt động; để củng cố, xây dựng lại cơ sở đảng. Cuối năm 1933, Trung ương cử đồng chí Nguyễn Tạo vào Thanh Hóa1 Đồng chí Đinh Chương Dương đưa đồng chí Tạo thoát ly ở nhà đòng chí Sinh, do bị lộ ông đã đưa đồng chí Tạo xuống nhà đồng chí Lê Văn Kiệm là người vừa là thông gia, vừa là cảm tình cách mạng. Ở được một thời gian thì tình hình  ngày càng lộ, đồng chí Sinh lại đưa đồng chí Tạo vào thoát ly ở trại Hải Mao của tên điền chủ Nguyễn Mậu Cương (thường gọi là Quản Hoán) là anh ruột của đồng chí Nguyễn Mậu Sung.

Việc đồng chí Đinh Chương Dương đưa đồng chí Tạo lên thoát ly ở nhà đồng chí Sinh bị địch theo dõi nên bị lộ. Tháng 4/1934 đồng chí Đinh Chương Dương vào nhà đồng chí Sinh để báo cho đồng chí Sinh biết thì tối bị lộ và bị mật thám bắt ngay đồng chí Dương, đồng chí Sinh và vào bắt cả đồng chí Tạo ở trại Hải Mao.

Bị tù đày, giam cầm, địch tra tấn dã man, nhưng các đồng chí không khai báo gì, nhưng bọn địch vẫn viết án đồng chí Lê Xuân Sinh phải cầm tù. Trong khi đó quần chúng cách mạng không ai việc gì, riêng chỉ có ông Lê Văn Thân cảm tình và ông Trịnh Đình Biên lý trưởng và Hương đoàn Phấn Thôn bị địch bắt phạt tù 3 tháng về tội thiếu chức trách; Vì vậy, mà lòng tin của quần chúng đối với cách mạng càng tin cậy vững vàng.

Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, các Xứ ủy đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng và phong trào đấu tranh chống thực dân phong kiến tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tại Thọ Xuân, tháng 7 năm 1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp (người của xứ ủy Bắc Kỳ), sau hai lần về Thọ Xuân đấu mối đã liên lạc được với Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Yên Trường (Thọ Lập), Yên Lược (Thọ Minh) và Chỉ Tín (Xuân Tín). Ngày 22 tháng 7 năm 1930, tại nhà đồng chí Lê Văn Sỹ (Yên Trường, Thọ Lập), tuyên bố thành lập chi bộ Đảng Cộng sản gồm 7 đảng viên(ỉ). Đây là chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Thọ Xuân và là chi bộ cộng sản thứ 3 trong tỉnh, sau Hàm Hạ (Đông Sơn) và Phúc Lộc (Thiệu Hóa).

Ngày 29 tháng 7 năm 1930, một sự kiện trọng đại của đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã diễn ra tại nhà đồng chí Lê Văn Sỹ làng Yên Trường (Thọ Lập), đó là Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, do đồng chí Nguyễn Doãn Chấp chủ trì. Hội nghị đã quyết định nhiều chủ trương công tác có ý nghĩa mở đầu của Đảng bộ và phong trào cách mạng trong tỉnh.

Một là: Đẩy mạnh công tác tư tưởng, tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lê nin, chính cương vắn tắt, sách lược vẳn tẳt của Đảng, tích cực phát triển đảng viên, xây dựng mở rộng cơ sở Đảng và tổ chức Nông hội đỏ.

Hai là: Thành lập cơ quan in tài liệu của Tỉnh ủy và xuất bản tờ báo ‘Tiến lên” cơ quan ngôn luận đầu tiên của Đảng bộ tỉnh.

Ba là: Đoàn kết, xây dựng, tổ chức, chỉ đạo quần chúng cần lao đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống chế độ thực dân, phong kiến.

Bốn là: Bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 3 đồng chí Lê Thế Long, Lê Văn Sỹ và Vương Xuân Cát, đồng chí Lê Thế Long được bầu làm Bí thư.

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ, báo “Tiến lên” cùng với các tài liệu khác của Đảng đã làm cho Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng mục đích, chính cương, sách lược vắn tắt của Đảng truyền bá sâu rộng trong quần chúng nhân dân lao khổ, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng chống áp bức bóc lột. Ở huyện Thọ Xuân, các chiến sĩ cộng sản đã tổ chức rải truyền đơn kêu gọi quần chúng chống đế quốc phong kiến, kêu gọi tham gia Công hội đỏ, Nông hội đỏ. Truyền đơn rải ở phủ lỵ Thọ Xuân, phố Bái Thượng, đón điền Vạn Lại. Tại Vạn Lại đã xây dựng được tổ chức Công hội đỏ đầu tiên trong tỉnh, công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt lương.

Nhiều làng ở Thọ Xuân đã xây dựng được tổ chức Nông hội đỏ. Ở Yên Trường (Thọ Lập). Nông hội đỏ đã tổ chức cho nhân dân đấu tranh đòi chia lại công điền, công thổ vốn dĩ bị bọn hào lý, địa chủ chiếm đoạt. Tại Chỉ Tín, Nông hội đỏ vận động nhân dân không đi đắp đường vào ấp của quan Tri phủ.

Tại Thọ Hải (làng Hương, làng Hóa, làng Rạch, làng Phấn Thôn, làng Công Thành, làng Mậu Công) tuy chưa có tổ chức nông hội đỏ nhưng sách báo cách mạng vẫn được tầng lớp thanh niên trí thức trong các làng đọc tiếp thu, truyền khẩu qua các cuộc gặp gỡ ở hiệu may, hiệu cắt tóc, nơi có nhiều quần chúng bằng hình thức kể chuyện, và với nhiều hình thức khác, các chủ trương, sách lược của Đảng đã được ngấm ngầm thực hiện ở Thọ Hải.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh chống chính quyền thực dân phong kiến, chống đàn áp bóc lột... đã dấy lên mạnh mẽ ở khắp nơi trong tỉnh. Nhiều làng xã, đồn điền, nhà máy đã có tổ chức Nông hội đỏ, Công hội đỏ.

Cuối năm 1930, chính quyền thực dân phong kiến tung mật thám dò la và truy bắt các chiến sĩ cách mạng trong tỉnh. Tất cả các chi bộ Đảng, cơ sở cách mạng, tổ chức Nông hội đỏ, Công hội đỏ bị đánh phá. Các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, một số đảng viên, quần chúng bị địch bắt cầm tù. Phong trào cách mạng trong tỉnh tạm thời lắng xuống.

Những năm 1930 – 1931, Nghiêm Quý Ngãi cùng với Xuân Phương, đã rải truyền đơn về Thọ Xuân nói chung và Thọ Hải nói riêng về kêu gọi công nhân, nông dân, đoàn kết hang ngày ở vùng Bái Thượng Thọ Xuân, nôi dung của truyền đơn là kêu gọi công nhân, nông dân ủng hộ Xô Viết - Nghệ Tĩnh

Là vùng đất có bề dày về lịch sử văn hóa truyền thống yêu nước, lại có chợ Hương nhiều người từ xa đến bán mua hàng hóa, nông sản, cũng là địa phương có nhiều người đến ngụ cư, địch tập trung theo dõi và thường xuyên khám xét, nhất là người gốc Nghệ An - Hà Tĩnh. Năm 1932, thực dân Pháp đặt đồn Bang tá tại Bái Thượng, có một trung đội lính chuyên đi lùng sục truy bắt cán bộ cách mạng. Ở tổng Diên Hào có thêm chức Tổng đoàn, mỗi làng chúng tổ chức một đội Hương Dũng chuyên theo dõi những người chúng tình nghi hoạt động cộng sản, hoặc có cảm tình với cách mạng. Trong những ngày kỷ niệm lớn như quốc tế lao động 1/5, công xã Pari 14/7... chúng cấm trước ba ngày không ai được đi khỏi làng, ban đêm không được ra đường, không nói chuyện quá ba người. Cùng với việc quản lý gắt gao, sưu thuế nặng nề, chính quyền thực dân phong kiến còn ra sức tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản như: Cộng sản vô thần triệt hạ tôn giáo, phá hết nhà thờ, đình chùa miếu mạo, tập trung ruộng vườn, nhà cửa, tài sản, vợ con...

Trước đó, vào đầu năm 1934, đồng chí Trịnh Hữu Thường người làng Trung Vực (Xuân Thành) đã về nhà ông Cố Thuộc làng Hương dạy học, đồng thời gây dựng lại phong trào đồng chí Nguyễn Mậu Sung về Thôn Hương Nhượng và cùng với đồng chí Nguyễn Tự Sản1 xây dựng phong trào cách mạng ở các làng thuộc tổng Diên Hào.

Mặc dù bị địch lừa bịp, khủng bố dã man, vào tù ra tội, nhân dân lao động Thọ Xuân nói chung và nhân dân Thọ Hải nói riêng vẫn một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

3.TỔ CHỨC TƯƠNG TẾ ÁI HỮU Ở XÃ THỌ HẢI (THỜI KỲ 1936- 1939)

Sau khủng hoảng kinh tế thời kỳ 1923-1933, tình hình thế giới đã chuyển biến sâu sắc, chủ nghĩa phát xít đã hình thành gồm 3 nước (Đức - Ý - Nhật) và đang ráo riết chuẩn bị gây chiến tranh nhằm chia lại thuộc địa và thị trường thế giới... trước tình hình đó, Quốc tế cộng sản đã họp và kêu gọi nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới đoàn kết đâu tranh chống lại chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới. Tại nước Pháp, lực lượng dân chủ tiến bộ lên cầm quyền, đã ban hành nhiều chính sách tiến bộ cho nhân dân thuộc địa, năm 1936, Chính phủ Pháp phải thay đổi chính sách cai trị ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam.

Năm 1936, ở Thanh Hóa một số cán bộ bị thực dân Pháp bắt đã thoát khỏi nhà tù về địa phương, cùng với các đồng chí hoạt động chưa bị lộ, những chiến sỹ cách mạng bị địch quản chế tại địa phương đã tăng thêm lực lượng lãnh đạo ở cơ sở, đưa phong trào cách mạng trong tỉnh ngày một mở rộng và phát triển.

Mặc dù chưa liên lạc được với Trung ương Đảng và Xứ ủy, nhưng căn cứ vào sự chỉ đạo của Đảng in công khai trên các báo. Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tại làng Yên Lộ (nay thuộc xã Thiệu Vũ, Thiệu Hóa) vào tháng 12 năm 1936 để bàn chủ trương, biện pháp tổ chức đấu tranh công khai, bán công khai chống chính quyền thực dân phong kiến, đòi dân sinh, dân chủ. Các đồng chí Trịnh Hữu Thường,Nghiêm Quý Ngãi (Tỉnh ủy viên) và Nguyễn Mậu Sung được Tỉnh ủy phân công phụ trách Thọ Xuân nói chung trong đó Thọ Hải. Khi mới được ra tù, đồng chí Nguyễn Mậu Sung cùng với cán bộ các cơ sở lập Hội Tương tế ái hữu ở làng Quần Kênh (Xuân Giang), Nam Thượng (Tây Hồ), làng Kim Phúc, Phúc Thượng, tổng Diên Hào, làng Thượng Vôi, tổng Kiên Thạch (nay thuộc xã Xuân Hòa).

 

Năm 1936, Pháp (chính quyn) Đng cng sn Pháp, chiếm đa s trong ngh trường; thành lp, Mt trn bình dân cánh t nm chính quyn thi hành; Ci cách dân ch thuc đa như: tha tù chính tr, t do báo chí, t do ngôn lun. Sau đó phái đoàn Gô Đa sang điu tra, do đó các tù chính tr được tha. Các chiến sĩ cách mng li tiếp tc hot đng, phong trào qun chúng được lan rng khp nơi.

nh hưởng ca phong trào chung, qun chúng Nhân dân phn khi trông đi s lãnh đo ca Đng, ca các chiến sĩ cách mng, đ cng c li các t chc, đng chí Lê Xuân Sinh cùng con là Lê Xuân Sn đã tuyên truyn, giác ng mt s thanh niên hc sinh cùng v tham gia: Lê Văn Hu, Nguyn Xuân Liên, Lê Văn Đăng, Nguyn T Vin, Nguyn Danh N, Nguyn Duy Tiên, Nghiêm Quý Ngãi.

nh hưởng vi phong trào trong huyn, trong tnh, các đng chí và các người trên đã làm bn kiến ngh gi li phái b điu tra Gô Đa (Pháp) đòi tha tù chính tr, ci cách dân ch, t do báo chí, t do ngôn lun, t do hi hp, thành lp mt trn Dân ch Đông Dương (bn kiến ngh này do đng chí Hu viết và các đng chí đu ký). Các đng chí đã lãnh đo qun chúng tham gia cuc bu c đân biu Th Xuân, đưa ông Đ Bá Quý Xuân Hòa là đng viên Đng Tân Vit cũ ra tranh c vi tên Phm Văn Giáo là tên phn đng, tay sai ca đế quc Pháp. Cuc tranh c, tuy không thng li nhưng đã gây được nh hưởng tt trong qun chúng, trong Nhân dân; ngoài ra, cũng trong dp này các sách, báo, tài liu ca Đng được lưu hành sâu rng trong Nhân dân.

Qua tuyên truyn đng viên ca các chiến sĩ, cán b cách mng, do nh hưởng ca tài liu, sách báo ca đng, t nông thôn, đến thành th, đng ch trương thành lp các Hi ái hu, Hi tương tế. Mc đích, ca Hi ái hu là đoàn kết, thương yêu giúp đ ln nhau, cùng nhau đu tranh, đòi quyn li thiết thc, ci cách nông thôn; bi thế nên phong trào cách mng trong nước được lên cao, phong trào tương tế ái hu đã lan rng khp nơi.

Đảng ta thực hiện chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân Phản đế được phổ biến qua tài liệu chung quanh vấn đề chính sách mới ngày 30/10/1936 khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện liên minh thời kỳ trước. Việc tập hợp lực lượng trong Mặt trận được công khai qua bức thư ngỏ của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp bày tỏ sự đồng minh với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào "tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương".

 Vào khoảng cuối năm 1936, đồng chí Trịnh Hữu Thường và đồng chí Nguyễn Mậu Sung đã xây dựng được Hội Tương tế ái hữu ở các làng  làng Hương, làng Hón, làng Rạch,làng Phấn Thôn (Thọ Hải) Hải Trạch, Thịnh Mỹ, Quần Đội, Quần Lai (Thọ Hải), Diên Hào (Thọ Lâm), mỗi làng từ 1 đến 2 tổ, mỗi tổ có từ 10 đến 15 người. Làng Hương, Làng Buốn, Hóa, Rạch, Phấn Thôn mỗi làng một tổ hoạt động dưới danh nghĩa là hội cày bừa, hội lợp nhà, hội hiếu hỷ... giúp nhau lao động sản xuất, khi có cha già mẹ héo, làm nhà, cưới vợ... Bên trong là tuyên truyền những chủ trương, sách lược của Đảng, tổ chức đấu tranh công khai, hợp pháp chống đế quốc, phong kiến, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tổ chức học chữ Quốc ngữ...

Nhân cụ thân sinh ra đồng chí Đỗ Bá Du làng Quần Lai mất, tất cả các tổ trưởng Hội Tương tế ái hữu trong vùng đều đến viếng và tổ chức tang lễ trang nghiêm, có đọc điếu văn, không có tổn phí tốn kém gì. Bọn chức dịch trong vùng như Cai tổng, Lý trưởng cũng không dám hoạch họe gì. Từ đám tang này, uy tín của cách mạng ngày một nâng cao, khối đoàn kết nhân dân ngày một mở rộng, số hội viên Tương tế ái hữu có làng lên đến hàng trăm người. Làng Hải Trạch và làng Quần Lai xóa bỏ việc hàng giáp, các tổ Tương tế ái hừu đề ra quy chế giúp đỡ nhau về kinh tế, các hội viên gặp khó khăn hoạn nạn. Thời gian này các sách báo cách mạng như “Vấn đề dân cày”, “Giai cấp là gì”, “Con đường cách mệnh” cùng nhiều sách báo khác của Đảng đã về đến các làng xã Thọ Hải, góp phần nâng cao trình độ chính trị, tinh thần đấu tranh của quần chúng cách mạng.

Ngay từ khi mới được thành lập, hoạt động của Hội Tương tế ái hữu các làng ở Thọ Hải phần nào đã giảm bớt những bức xúc trong đời sống nhân dân như các hủ tục lạc hậu cưới xin, ma chay, chống lại cường quyền áp bức, chống sưu cao thuế nặng... Chính vì vậy đã lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Thanh Hóa, các chiến sỹ cộng sản ở Thọ Xuân đã chỉ đạo các Hội Tương tế ái hữu Thọ Hải vận động nhân dân chống lại “ Dự án luật thuế mới”, “Luật dự án thuế thân” thực chất là tăng thuế từ 2,7 đồng Đông Dương lên 3,6 đồng Duơng một suất đinh. Thuế thân là loại thuế vô lý lẽ ra phải loại bỏ, nay bọn thống trị lại tìm cách nâng cao. Hiểu rõ tính chất vô lý và bất công, các tổ chức Tương tế ái hữu ở Thọ Hải đã lấy được hơn 60 chữ ký lão bản dân nguyện gửi lên Viện dân biểu Trung Kỳ, bác bỏ “Dự án thuế thân mới” và tiếp tục đấu tranh bác bỏ “Dự án thuế điền thổ”.

Trước đó, vào giữa năm 1936, Tỉnh ủy Thanh Hóa nhận định phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân Thọ Xuân phát triển khá mạnh, nhưng các cơ sở Đảng lãnh đạo phong trào đã chưa đuợc củng cổ một cách toàn diện. Để đẩy mạnh, phát triển và củng cố tổ chức cơ sở, Tỉnh ủy đã cử đồng chí Trịnh Hữu Thường về Thọ Xuân cùng với đồng chí Nguyễn Mậu Sung, Hoàng Sỹ Oánh cùng các cán bộ chủ chốt cơ sở xúc tiến công tác này.

Một hội nghị gồm các cán bộ chủ chốt các làng tổng đuợc tổ chức tại nhà đồng chí Lê Xuân Tuyên (làng Vân Lộ, Thọ Nguyên). Hội nghị đã bầu ban Vận động cách mạng huyện gồm 5 đồng chí: Trịnh Hữu Thường, Hoàng Sĩ Oánh, Nguyễn Mậu Sung, Lê Khánh Việt và Nguyễn Văn Anh (Nguyễn Văn Anh người làng Thịnh Mỹ, Thọ Hải).

Sau hội nghị ở Vân Lộ (Thọ Nguyên), các cán bộ trong ban Vận động bí mật về các làng, tổng cùng với những cán bộ chưa bị địch bắt, củng cố lại Hội Tương tế ái hữu, tổ chức cho nhân dân đấu tranh công khai, hợp pháp và b án hợp pháp.

Sau khi Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền với bản chương trình hành động trong đó có nêu việc thành lập một Uỷ ban của nghị viện điều tra tình hình chính trị và kinh tế ở các thuộc địa, cùng với nhiều nước thuộc địa khác các nhà yêu nước Việt Nam kêu gọi "tiến tới một cuộc Đông dương Đại hội" sáng kiến đó được đảng Cộng sản Đông Dương ủng hộ bằng bức thư ngỏ tháng 8-1936 nêu 12 nguyện vọng cụ thể làm cơ sở cho Đông Dương Đại hội, lời kêu gọi đã dấy lên một phong trào sôi nổi trong nhân dân cả nước.

Đầu năm 1937, Tỉnh ủy chủ trương tổ chức cuộc vận động đón Gô-Đa, Gô-Đa là phái viên của Mặt trận bình dân Pháp được cử sang Đông Dương điều tra tình hình thuộc địa. Các tổ chức cách mạng ở các làng Thọ Hải cử 10 người đi thị xã Thanh Hóa đón Gô-Đa, đưa bản yêu sách gồm các điều: Giảm nhẹ sưu thuế, mở rộng quyền tự do, dân chủ, tự do đi lại, tự do tổ chức phường hội, thả tù chính trị, Cải cách hương thôn...

 Tháng 9-1937 một loạt các tổ chức như Thanh niên Dân chủ Đông Dương, Hội Cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội ra đời cùng với việc hoạt động công khai và nửa công khai của các tổ chức quần chúng nhuư hội ái hữu, tương tế, các hội hoạt động âm nhạc... từng bước hình thành một Mặt trận Dân chủ Đông Dương.

 Tháng 6/1938 Đảng Cộng sản Đông Dương gửi thư công khai cho các đảng phái đề nghị gác các ý kiến bất đồng để "bước tới thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương" chính trong thời kỳ này từ những phong trào Mặt trận đã dần hình thành Mặt trận với tính chất của một tổ chức.

Nhiều cán bộ ở Thọ Hải lăn lộn với phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp, chống sưu cao thuế nặng, đón Gô-Đa đưa bản yêu sách như: ở làng Hón, Thịnh Mỹ…

Từ phong trào cách mạng, nhiều quần chúng ưu tú trung kiên đã giác ngộ lý tưởng cộng sản và đã được lựa chọn kết nạp vào Đảng. Nhiều chi bộ Đảng ra đời như chi bộ Long Linh Ngoại (Thọ Trường), Chi bộ ghép Xá Lẻ - Thuần Hậu - Ngọc Trung - Phong Cốc.

Sự ra đời của các chi bộ cộng sản đã làm phong trào cách mạng quanh vùng phát triển mạnh mẽ và đúng hướng, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng Thọ Xuân phát triển thành cao trào.

Tại huyện Thọ Xuân, sau vụ khủng bố gay gắt của địch vào cuối tháng 12 năm 1938, các chi bộ và tổ chức cách mạng vẫn kiên quyết tổ chức cho nhân dân đấu tranh công khai, hợp pháp và bán hợp pháp, đồng thời đưa một số bộ phận vào hoạt động bí mật.

Hưởng ng phong trào chung ca c nước, xã Th Hi đã có Hi tương tế Ái Hu lúc đầu có 42 người, Hi đã tho ra quy ước, điu l, Qu ca Hi là 42 thúng lúa và mt s tin, Hi đã thc hin giúp đ 2 gia đình làm nhà vì b hon nn. nh hưởng ca Hi đã lan rng trong Nhân dân. Phong trào tt lan rng và mt s hương lý tiến b cũng t nguyn xin ra nhp hi. Hi tương tế Hương Nhượng do các đng chí Nguyn T Vin lãnh đo, ph trách. Hi cũng đã có qu và thc hin mt s vic: giúp đ được mt gia đình làm nhà. nh hưởng tt này cũng được lan rng trong Nhân dân. Ngoài giúp đ nhau, Hi tương tế, còn vn đng ci lương hương t (Phn Thôn đã thc hin, được bn thng tr chp nhn cho thi hành); Hi còn vn đng Nhân dân đu tranh chính tr, đánh đ lý trưởng, đưa ngưởi ca hi viên ca hi vào thế chân như: Hi tương tế ca Hưng Nhượng.

Không nhng đu tranh chính tr, vn đng, tuyên truyn thuyết phc qun chúng đi theo cách mng mà Hi còn mua sách báo, tài liu ca Đng, hc tp chính tr, nâng cao trình đ mi đáp ng được trào lưu ca phong trào ca đt nước. Hai hi tương tế Phn Thôn, Công Thành và Hương Nhượng hot đng được mt thi gian thì bn cường hào, phn đng t giác vi bn quan li. Tri ph Phm Ngc Bích lên khám nhà c Lê Xuân Chc (c làm th qu ca Hi) tch thu s sách, điu l và quy ước ca Hi; tuyên b gii tán hi tương tế. Sau Y ch cho ci lương hương t Phn Thôn. Hi tương tế Hưng Nhượng vì đánh đ lý trưởng nên y hn thù và t giác lên bn quan li, bn chúng đã bt mt s đng chí như: Nghiêm Quý Ngãi, mt tháng tù giam ti nhà lao Thanh Hóa.

Dù cho hai Hi tương tế b gii tán, đng chí Ngãi b tù, nhưng các hi viên vn vng lòng tin, không hoang mang dao đng và vn tiếp tc hưởng ng và thc hin các cuc vn đng ca đng đ ra như mua sách báo, tuyên truyn, vn đng qun chúng, vn đng Nhân dân tham gia các cuc mít tinh, biu tình như Cuc mít tinh ch Neo ngày 14 - 7 – 1938, do Đng b huyn Th Xuân t chc mít tinh ngày k nim cách mng Pháp. Th Hi cũng đã t chc và có 60 người đi d mít tinh đu đi v an toàn do đng chí Liêm, đng chí Ngãi ph trách.

Cuc mít tinh ch Neo t chc công khai, và bán công khai, được qun chúng hưởng ng đông đo, rm r; hàng nghìn người d mít tinh đu phn khi, tin tưởng, chính vì thếnh hưởng tt ca cách mng đã lan rng ra toàn khp huyn. Đ dp tt phong trào đu tranh ca qun chúng Nhân dân bn quan li tung bn mt thám ra lùng bt b cán b cách mng đã t chc cuc mít tinh. Chúng đã lùng đón và bt mt s cán b cách mng như: đng chí Nguyn Văn Anh Th Diên, Trnh Hu Thường, Trnh Ngc Phóc Xuân Thành.

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Mặt trận Dân chủ Đông dương bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Cùng với sự đầu hàng thoả hiệp của thực dân Pháp với phát xít Nhật, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đã đặt ra. Tháng 11/1939 Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo, chuyển cuộc vận động Mặt trận Dân chủ thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống chiến tranh đế quốc với tên gọi chính thức: Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông dương nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, bè lũ tay sai của chúng và vua chúa bản xứ phản bội quyền lợi dân tộc. Các tổ chức phản đế phát triển nhanh chóng dưới hình thức bí mật và công khai.

Thực hiện chủ trương của Trung ương ngày 20 tháng 6 năm 1939, Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định chuyển một số cơ sở vào hoạt động bí mật và bán hợp pháp.

Tháng 7 năm 1939, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, hai đồng chí Trịnh Hữu Thường và Hoàng Sĩ Oánh đã tổ chức hội nghị cơ sở Đảng và tổ chức cách mạng ở Thọ Xuân. Hội nghị đã quyết định tổ chức mít tinh tại chợ Neo (Bắc Lương) nhân kỷ niệm cách mạng tư sản Pháp (14/7/1939).

Thực hiện tinh thần hội nghị, đồng chí Nghiêm Quý Ngãi (người xã Thọ Hải) và Nguyễn Mậu Sung về các làng (nay thuộc xã Xuân Hòa) vận động quần chúng nhân dân về chợ Neo dự mít tinh, được hơn 100 người tham gia. Đồng chí Nguyễn Văn Anh về các làng Hương, Hón, Phấn Thôn, Công Thành vận động được 15 người tham gia.

Cuộc mít tinh ở chợ Neo có hàng ngàn người về dự, nòng cốt là Hội viên hội Tương tế ái hữu. Cuộc mít tinh do đồng chí Trịnh Hữu Thường diễn thuyết, phản đối bọn phản động thuộc địa bội tín tinh thần cách mạng tư sản Pháp, phản đối việc khủng bố Mặt trận dân chủ Đông Dương của nhà cầm quyền, lên án chủ nghĩa phát xít, kêu gọi toàn dân đấu tranh đòi tự do, cơm áo, hòa bình. Cuộc mít tinh đã biến thành cuộc tuần hành biểu dương lực lượng. Từ chợ Neo quần chúng chia làm nhiều đoàn đi về các địa phương, vừa đi vừa hô to khẩu hiệu: “Hoan nghênh tinh thần cách mạng tư sản Pháp”, “Kiên quyết phòng thủ Đông Dương”, “Đả đảo phát xít Đức - Ý - Nhật”, “Tự do, cơm áo và hòa bình muôn năm”. Cuộc mít tinh và tuần hành đã tác động lớn đến phong trào cách mạng ở Thọ Hải.

Sau cuộc mít tinh ở Chợ Neo, địch tập trung khủng bố mạnh vào các tổ chức Đảng và cơ sở cách mạng có nhiều đảng viên, cán bộ cốt cán đã bị bắt. Đồng chí Trịnh Hữu Thường bị kết án 3 năm tù; đồng chí Nguyễn Văn Anh bị bắt giam 6 tháng, sau đó bị quản thúc tại địa phương.

Trong những năm 1936 - 1939, các tổ chức cách mạng ở Thọ Hải mà nòng cốt là Hội tương tế ái hữu, ở các làng đã vận động nhân dân đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, chống bắt phu, bắt lính, đấu tranh chống lại cường hào bóc lột, bài trừ các hủ tục lạc hậu, giải tán phe giáp, giúp nhau lúc khó khăn hoạn nạn, giúp nhau làm nhà, cưới vợ, tang ma... đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân. Thông qua đấu tranh cách mạng, quần chúng đã học tập, rèn luyện nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, tạo ra những điều kiện cần thiết đưa phong trào cách mạng Thọ Hải đi lên ngày một rộng lớn và đấu tranh quyết liệt hơn.

II.PHONG TRÀO PHẢN ĐẾ Ở XÃ THỌ HẢI VÀ KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN VỀ TAY NHÂN DÂN (1939 - 1945)

1.Phòng trào phản đế cứu quốc ở Thọ Hải 1939 -1941

Ngày 01-09-1939, Đức tấn công Ba Lan. Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, đế quốc Pháp tập trung sức người, sức của lao vào vòng chiến. Ở Việt Nam, Pháp và chính quyền tay sai thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, tiến công vào Đảng ta và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo, tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta vừa giành được thời kỳ 1936-1939. Trước tình hình đó, ngày 29-9-1939, Ban Thường vụ Trung ương Đảng kịp thời chỉ thị cho các cấp ủy Đảng chuyên vào hoạt động bí mật và chuyển hướng bảo vệ lực lượng cách mạng.

Tháng 11-1939, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp và đề ra chủ trương chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng, chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang trực tiếp đấu tranh đánh đổ chính quyền đế quốc, tay sai.

Tháng 10- 1939, nhận được chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thanh Hóa về chỉ đạo đình chỉ mọi cuộc mít tinh biểu tình để bảo toàn lực lượng, đồng thời chuyển hướng hoạt động của cơ sở Đảng, các tổ chức cách mạng vào bí mật. Vào thời điềm này, chính quyền thực dân phong kiến một mặt ra sức đàn áp khủng bố phong trào cách mạng trong tỉnh, truy bắt bỏ tù các đảng viên, cán bộ cách mạng của Đảng, một mặt ra sức vơ vét tài nguyên khoáng sản đưa về nước và cùng với việc tăng các loại thuế, thực dân Pháp còn bắt phu, bắt lính đưa sang Pháp làm bia đỡ đạn cho chúng.

Sau vụ mít tinh và biểu tình ở chợ Neo, địch bắt đồng chí Trịnh Hữu Thường và Nguyễn Văn Anh, Hội Tương tế ái hữu ở các làng Hải Trạch, làng Hương, Hón, Mậu Thịnh hầu như tan rã.

Chiến tranh thế gii th 2 bùng n thì Mt trn bình dân Pháp b lt đ, bn đế quc bt đu khng b phong trào cách mng các thuc đa. Thc dân Pháp tuyên b gii tán các t chc qun chúng như: T chc nghip đoàn ca th thuyn, gii tán các Hi tương tế ca nông dân. Đ dp tt phong trào cách mng t gc, đu năm 1939, bn thc dân Pháp tung mt thám xung các vùng nông thôn, cùng bt cán b và chiến sĩ cách mng, Th Hi chúng đã bt đng chí Lê Xuân Sinh và chúng đưa đi nhà lao An Tri…Chúng giam cm, đánh đp tra tn quá dã man nhưng đng chí Sinh không mt li khai báo, và sau đó đng chí Sinh b m quá nng, chúng mi th. Bn thc dân Pháp tung mt thám đi lùng sc khp mi nơi khng b quá gay gt, dày đc mt thám, đ bo tn lc lượng, và đi vào cng c, duy trì các t chc cách mng, Đng ta phi rút vào hot đng bí mt.

Như T Hu đã nói: “Phong trào tm lng, phong trào li lên”. Các t chc Đng, t chc nghip đoàn ca th thuyn, các t chc qun chúng: Hi tương tế cũng rút vào hot đng bí mt.

Tháng 9 năm 1939,chiến tranh thế gii ln th hai bùng n, Mt trn Dân ch Đông dương b thc dân Pháp thng tay đàn áp. Cùng vi s đu hàng tho hip ca thc dân Pháp vi phát xít Nht, vn đ sng còn ca các dân tc Đông Dương đã đt ra. Tháng 11/1939 Đng Cng sn Đông Dương đã kp thi chuyn hướng ch đo, chuyn cuc vn đng Mt trn Dân ch thành Mt trn Dân tc thng nht chng chiến tranh đế quc vi tên gi chính thc: Mt trn Dân tc thng nht phn đế Đông dương nhm liên hip tt c các dân tc Đông Dương, các giai tng, đng phái, cá nhân có tinh thn phn đế mun gii phóng dân tc chng đế quc, bè lũ tay sai ca chúng và vua chúa bn x phn bi quyn li dân tc. Các t chc phn đế phát trin nhanh chóng dưới hình thc bí mt và công khai.

Hi ngh phân tích sâu sc tính cht, hu qu ca cuc chiến tranh thế gii; vai trò, v trí ca Đông Dương trong cuc chiến tranh đó; bn cht sâu xa trong các chính sách phn đng ca thc dân Pháp; thái đ chính tr ca các giai cp trong xã hi Vit Nam trước biến đng ca thi cuc và vch ra đường li chính tr, phương hướng, nhim v cách mng Vit Nam trong tình hình mi. Hi ngh nhn đnh, phát xít Nht s chiếm Đông Dương. B máy cai tr Đông Dương đang tng bước phát xít hoá, mt th phát xít thuc đa tàn bo và nhng k đng đu b máy đó đang mưu toan tho hip, đu hàng phát xít Nht. Các chính sách phn đng ca đế quc Pháp đy nhân dân đến ch cùng cc, lay đng hu hết các giai cp, tng lp xã hi, làm cho mâu thun xã hi vn sâu sc gia Pháp vi các tng lp nhân dân càng thêm sâu sc, đòi hi được gii quyết. Nhng nhn đnh và phân tích tình hình đó là cơ s cho vic đnh ra phương hướng hành đng ca toàn Đng, toàn dân đi ti gii phóng dân tc, giành chính quyn v tay nhân dân.

Hi ngh khng đnh hai nhim v cơ bn ca cuc cách mng tư sn dân quyn, là đánh đ đế quc và giai cp đa ch phong kiến không thay đi, nhưng phi được áp dng cho phù hp vi tình hình mi. Trong điu kin chiến tranh thế gii đã n ra và bn thng tr Đông Dương thi hành các chính sách vô cùng tàn bo, chà đp lên mi quyn sng ca nhân dân, Hi ngh xác đnh k thù c th, nguy him nht ca cách mng Đông Dương lúc này là ch nghĩa đế quc và bn tay sai phn bi dân tc, tính cht cuc cách mng hin ti là cách mng gii phóng dân tc. Nhim v trung tâm trước mt ca cách mng Vit Nam nói riêng và cách mng Đông Dương nói chung là đánh đ đế quc và tay sai, giành hoàn toàn đc lp cho dân tc: "Bước đường sinh tn ca các dân tc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đ đế quc Pháp, chng tt c ách ngoi xâm, vô lun da trng hay da vàng đ giành ly gii phóng đc lp".

Đ tp trung đông đo lc lượng dân tc, Hi ngh quyết đnh thay đi mt s khu hiu, chuyn hướng hình thc t chc và hình thc đu tranh:

Tm gác khu hiu tch thu rung đt ca giai cp đa ch; ch ch trương tch thu rung đt ca đế quc và tay sai.

Không nêu khu hiu lp Chính ph Xô Viết công nông mà đ ra khu hiu thành lp Chính ph Liên bang Cng hoà dân ch Đông Dương.

 Quyết đnh thành lp Mt trn thng nht dân tc phn đế Đông Dương thay cho Mt trn dân ch Đông Dương, nhm liên hip các lc lượng dân ch và tiến b, k c các t chc ci lương, đu tranh đòi dân sinh, dân ch.

V Đng, Hi ngh đã có nhiu ch trương cng c Đng, làm cho Đng phi thng nht ý chí và hành đng, phi mt thiết liên lc vi qun chúng, phi có vũ trang lý lun cách mnh, phi biết la chn cán b mi, phi cng c h thng t chc khp các vùng và min trong c nước, phi chú ý chng nn khiêu khích mt thám, t ch trích và đu tranh nhm chng c biu hin hu khuynh và "t" khuynh,... đ bo đm Đng vng mnh làm tròn s mnh lch s khi cao trào gii phóng dân tc được đy mnh.

Hi ngh Ban Chp hành Trung ương tháng 11-1939, đánh du s trưởng thành ca Đng, c th hoá mt bước đường li cu nước trên tinh thn ca Cương lĩnh đu tiên được hoch đnh t khi thành lp Đng. Đây là s chuyn hướng t đu tranh chính tr, hoà bình đòi quyn dân sinh dân ch sang đu tranh vũ trang - bo lc, kết hp đu tranh chính tr vi đu tranh vũ trang và khi nghĩa vũ trang đ giành chính quyn; t hot đng công khai, hp pháp, na hp pháp là ch yếu chuyn sang hot đng bí mt, bt hp pháp là ch yếu. Nhng ch trương ca Hi ngh Ban Chp hành Trung ương tháng 11-1939 tiếp tc được b sung, hoàn chnh Hi ngh Trung ương (tháng 11-1940) và Hi ngh Trung ương tám (tháng 5-1941).

Thực hiện nghị quyết của Mt trn phn đế cu quc Nhân dân Thọ Hải hot đng khp nơi; Năm 1940, đng chí Long, đng chí Ngãi là người xã là thành viên ca Mt trn phn đế cu nước. Được phái v đa phương, bt liên lc vi nhng người hot đng cách mng và đã cng c li cơ s cách mng, cng c li các t chc qun chúng như: Hi tương tế, vi lòng yêu nước sn có, lòng căm thù đế quc, phong trào ca xã t nhng năm 20 ca thế k XX, trong thi gian ngn, cơ s cách mng, các t chc qun chúng được cng c li và chuyn sang t chc cu quc, và sau này là đi t v cu quc và các đi t v đi vào hot đng do đng chí Liêm, đng chí Hiu, đng chí Sn ph trách. Cùng vi phong trào cách cách mng c nước, các đoàn th qun chúng, ph n, thanh niên, nông dân các thôn được thành lp, Phn Thôn do đng chí Sn, đng chí Liêm, đng chí Hiu ph trách, Hương Nhượng do đng chí N ph trách.

Các t chc cách mng đi vào hot đng bí mt đã đóng được mt s qu rt ln; Ban đêm thì hi hp bí mt đ nghe tài liu ca Đng, ca cách mng, xem báo chí như: Báo Búa Lim, Báo Gii Phóng. Đi t v bí mt, đêm đến tp võ, tp gy ti nhà ông Lê Văn Đ. Có người li được c đi d lp hun luyn ca Đng thôn Phúc Thượng (Xuân Hòa). Các đoàn thế cu quc, các đi t v đã quyên góp tin mua sm vũ khí, các th quân trang, quân dng: Kiếm, băng c, ng nhòm, qun, áo, mũ.

Trong các đoàn th cu quc, các đi t v, anh ch em rt tin tưởng, vào cách mng nên đã tham gia đóng góp tin, ca đ ng h cách mng; có nhng người không có tin thì tình nguyn bán nhng th, nhng vt không cn thiết đ ly tin ng h cách mng như: gia đình đng chí Vy làng Phn Thôn. Được s tuyên truyn, đng viên, giác ng cách mng, xã ta đã có nhiu gia đình như: gia đình c Lâm, gia đình ông Lê Văn Đ, ông Vinh, ông Hi…Tuy bn đế quc, bn mt thám lùng sc tìm bt cán b, chiến sĩ cách mng nhưng cũng không sao dp tt được ngn la cách mng khi đã bén vào lòng dân. Cán b, chiến sĩ cách mng tuy b lùng sc, bt b nhưng các chiến sĩ, cán b vn da vào lòng dân nên các cơ s, các t chc ngày càng ln mnh và phát trin rng rãi. Bi mt l vì các cán b, chiến sĩ, đã được nhiu gia đình, nuôi dưỡng và che du; được dân nuôi dưỡng, che tr; các cán b, chiến sĩ, cách mng vn tiếp tc sinh hot, thc hin theo ch trương, đường li cách mng mà không b l liu. Đ đm bo bí mt, mi khi giao nhn tài liu, hoc hi hp, hoc liên lc vi nhau là cánh đng Mã Chí, cánh đng Phượng (thuc cánh đng Ba Ch ngày nay); Các đa đim hi hp ban đêm ca đi, hoc mi khi giao nhn tài liu, các đa đim luôn luôn thay đi đ đánh lc hướng đch. Công vic hot đng và thc hin công tác đu do s lãnh đo ca ban Tng y Diên Hào.

Tháng 04-1940, Đức tấn công sang phía Tây, chiếm Đan Mạch, Na-uy, Bỉ, Phần Lan, Lúc-xăm-bua và Pháp. Tấn “thảm kịch” nước Pháp “Quân Đức tiến vào Pari”: Sau khi chọc thủng phòng tuyến Maginô ở miền Bắc nước Pháp, ngày 05-6-1940, quân Đức tiến về phía Pari như bão táp. Chính phủ Pháp tuyên bố “bỏ ngỏ” thủ đô và chạy về Boóc-đo, một bộ phận do tướng Đờ Gôn cầm đầu bỏ đất Pháp ra nước ngoài, dựa vào Anh, Mĩ tiến hành cuộc kháng chiến chống Đức. Bộ phận còn lại do Pêtanh đứng ra lập chính phủ mới, ngày 22-6-1940 kí với Đức hiệp ước đầu hàng nhục nhã (Pháp bị tước vũ trang, hơn 3/4 lãnh thổ Pháp bị Đức chiếm đóng và Pháp phải nuôi toàn bộ quân đội chiếm đóng Đức).

Trước tình hình Tỉnh ủy đã quán triệt Nghị quyết Trung ương VI; vào tháng 2-1940, tại làng Phúc Bồi (Thọ Lập), đồng chí Trần Hoạt (Trần Bảo) chủ trì hội nghị gồm 50 cán bộ là đại biểu của các làng, bàn chủ trương, biện pháp chuyển các đoàn thể dân chủ sang đoàn thể phản đế cứu quốc và thành lập đội tự vệ cứu quốc.

Tháng 6-1940, đồng chí Nguyễn Đức Cúc (tức Nguyễn Văn Linh) trên đường vào Nam đã liên lạc được với đồng chí Trần Hoạt(l) về làng Kim Ốc (Xuân Hòa). Tại đây, đồng chí đã biên tập tài liệu “Những điều cần biết của người cộng sản” và giúp ban cán sự huyện hoàn chỉnh điều lệ Hội phản đế cứu quốc. Điều lệ tự vệ cứu quốc và ấn hành báo “Tự do”, các tài liệu quan trọng này đều được chuyển về Hội phản đế cứu quốc các làng nghiên cứu và học tập.

Đến tháng 10-1940, Hội phản đế cứu quốc đã lan rộng ra toàn tỉnh, nhiều làng số hội viên phản đế đã lên đến hàng trăm hội viên. Lực lượng tự vệ cứu quốc và du kích cũng không ngừng phát triển.

Tại Thọ Hải, sau một thời gian bị mất liên lạc với tổ chức Đảng, các đồng chí Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Bá Ký, Đỗ Bá Nam đấu mối với các hội viên Tương tế ái hữu cũ, chuyển thành hội phản đế cứu quốc.

Tại Thọ Hải để hưởng ứng phong trào khởi nghĩa ở Bắc Sơn và Nam Kỳ, đồng thời kêu gọi toàn dân chống bắt phu, bắt lính, không nộp thuế cho địch, đầu tháng 6-1941, ban cán sự Phản đế cứu quốc huyện Thọ Xuân quyết định tổ chức mít tinh tại Mã Mây cánh đồng Ba Chạ. Thành phần về dự mít tinh và biểu dương lực lượng là hội viên Mặt trận Phản đế cứu quốc và tự vệ cứu quốc của các làng thuộc hai tổng Diên Hào và Kiên Thạch. Đồng chí Lê Thanh Long được phân công diễn thuyết, tố cáo tội ác của thực dân phong kiến, kêu gọi mọi người đoàn kết đấu tranh, không đi phu, đi lính cho địch, không nộp thuế cho địch.

Dưới sự hướng dẫn của ban tổ chức, lực lượng dự mít tinh hô vang khẩu hiệu: Không nộp thuế cho địch! Không đi phu đi lính cho địch!

Cuộc mít tinh ở cánh đồng Ba Chạ đã phát huy thanh thế lực lượng vũ trang cách mạng, hưởng ứng khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, đã phát huy tinh thần yêu nước, phong trào cách mạng ở Thọ Hải.

Đầu tháng 6-1941, Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức Hội nghị tại làng Phúc Tỉnh (Yên Thịnh, Yên Định) bàn biện pháp thúc đẩy phong trào phản đế cứu quốc lên cao trào. Hội nghị dành thời gian xúc tiến việc xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ban Chấp hành Đảng bộ được chia làm ba bộ phận đi xây dựng căn cứ địa cách mạng ba vùng1.

Sau khi đoàn công tác của đồng chí Trần Bảo phụ trách bị sa vào tay giặc ở đồn điền Yên Mỹ. Việc xây dựng căn cứ địa Tây Nam không thành.

Tháng 7-1941, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa quyết định thành lập chiến khu Ngọc Trạo huyện Thọ Xuân và thành lập ban chỉ huy chiến khu gồm các đồng chí Đặng Châu Tuệ, Trịnh Huy Lãm (Trần Tiến Quân) và Đặng Văn Hỷ.

Từ đây Thọ Xuân và các huyện Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Thọ Xuân có nhiệm vụ tuyển lựa tự vệ, du kích ưu tú đưa lên chiến khu và chi viện lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men, vũ khí... đảm bảo công tác hậu cần cho chiến khu.

Đầu tháng 10-1941, đồng chí Nguyễn Văn Hiêu (?) người làng Phấn Thôn (Thọ Hải) liên lạc được với tổ chức Đảng báo cho đồng chí Nguyễn Văn Anh (Thịnh Mỹ), Đỗ Bá Du (Quần Lai) và Nguyễn Văn Mầm (Hải Trạch) lựa chọn trong làng những tự vệ tích cực, có sức khỏe, tập trung về Đa Ngọc (Yên Giang, Yên Định) để lên chiến khu Ngọc Trạo theo thời gian và mật khâu liên lạc. Đêm mùng 7 rạng ngày mùng 8-10-1941, anh em tự vệ Thọ Hải do các đồng chí Nguyễn Văn Anh, Đỗ Bá Du, Nguyễn Văn Mầm phụ trách đến nơi đã hẹn thì bị mất liên lạc. Ngày 8-10-1941, địch phát hiện tự vệ du kích của ta tập kết tại Đa Ngọc, chúng tập trung lực lượng binh lính, mật thám bao vây tiến công Đa Ngọc. 100 chiến sỹ tự vệ du kích của ta bằng vũ khí thô sơ đã chiến đấu ngoan cường, rồi phân tán từng tốp nhỏ nhờ vào sự che chở của nhân dân rút lên chiến khu Ngọc Trạo.

Tháng 5 - 1941, đng chí Lê Văn Long (ph trách quân s v Tng) do s điu đng ca cp trên đi công tác khác. Ban ch huy quân s tng đươc bu li, gm có 3 đng chí: đng chí Nguyn Văn Liêm Ch huy trưởng; Đ Văn Trinh và Lê Văn Nh (Xuân Hòa) được bu là ch huy phó; các đng chí đã t chc cuc mít tinh toàn tng vào ti th 5 tháng 5 - 1941, ti Đng Lung (Phn Thôn). Cuc mít tinh, này là đ tp duyt qun chúng, đng thi, đ gii thiu Ban ch huy và cng c lòng tin ca qun chúng; cuc mít tinh t chc rt rm r trong đêm ti và luôn đ cao cnh giác, mi người mt khí gii, k gy, người cuc, t khp các ngã kéo v, t trên làng Dun (Th Lâm), đu tng đến xóm c, Kim thôn (Xuân Hòa) cui tng. Cuc mít tinh có ti 400 - 500 người, mc dù trong đêm ti mưa gió, k đch li rình mò, theo dõi, nhưng mi người đi d mít tinh vn hăng hái, đy dũng khí, tin tưởng vào cách mng, vào ban ch huy mi, mi người đu đi tp trung đúng gi, đy đ mt cách nhanh chóng. Mc dù bn mt thám, bn phn đng luôn rình mò theo dõi mà vn không biết. Cuc mít tinh đã giành được thng li là khi đi cho đến khi v, mi người đi d mít tinh vn an toàn.

Sau khi căn c Đa Ngc ca tnh b tan v, Chiến khu Ngc Tro được thành lp. Các đi t v 3 thôn đã c người tham gia như: đng chí Son, đng chí T, đng chí Sách, đng chí Vy nhưng khi các đng chí đi đến nơi thì chiến khu Ngc Tro b v, các đng chí đành quay v.

Cui năm 1941 phong trào cách mng lên cao, nh hưởng cũng ln trong qun chúng nhưng cũng to điu kin cho đch d theo dõi. Đch tung rt nhiu mt thám đi khp mi nơi đ dò la, thám thính. C 3 thôn xã ta đch cũng tung mt thám, bn Hương, lý phn đng rình mò, theo dõi. Sau khi nm được tình hình ca cách mng; chúng bt đu, khng b, chiến khu Ngc Tro b v, cơ s các nơi b l, xã ta đng chí Ngãi, đng chí Long b truy lùng ráo riết; đng chí Sn, hot đng Tng cũng b khám nhà và b bt. Còn li: đng chí Ngãi, đng chí Sn, đng chí Hiu, đng chí Vy và mt s qun chúng cũng đu b tình nghi. Ông Lê Văn Đ, b giam 2 tháng vì chúng tình nghi ông này hot đng thôn.

Lúc by gi đch khng b ráo riết khp nơi, các cơ s trong tnh, trong huyn đu b v, nhiu cán b cách mng b bt b tù đy, tra tn, gia đình b tình nghi khám xét, có nơi đch cho lính v phá phách, d nhà ca ca các chiến sĩ làm đn bt đ canh gác như: Phong Cc, Xá Lê (Xuân Minh) không nhng bn gic bt b, cm tù, tra tn các chiến sĩ hết sc dã man mà chúng còn khng b c gia đình, còn các đng chí cán b, chiến sĩ cách mng thì chúng tước hết quyn li chính tr ca người dân. Tha hành, bn quan trên, bn hào lý, Phn thôn, Hưng Nhượng đã trut phn đt bãi ca Nhân dân chia cho các đng chí, trước kia các đng chí được ch đt tt nay bn hào lý trut đi xung ch bãi xu đ chúng phân bit chính ng, khách ng.

 

Đa Ngọc bị vỡ, lực lượng tự vệ du kích Thọ Hải quay về địa phương xây dựng lực lượng, vận động nhân dân đấu tranh chống đàn áp, khủng bố, bắt phu bắt lính, đồng thời tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ bộ mặt thật của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chính quyền tay sai.

Đêm 18 rạng ngày 19-10-1941, thực dân Pháp tập trung 500 lính và 1.000 tuần đinh tấn công vào Ngọc Trạo. Lực lượng vũ trang cách mạng với vũ khí thô sơ, lợi dụng vào địa hình chống trả quyết liệt, lợi dụng trời còn tối rút về Cẩm Bào, Xuân Áng (Vĩnh Lộc), được nhân dân che giấu. Từ đây phân tán về các địa phương, dựa vào nhân dân tiếp tục đấu tranh.

Chiến khu Ngọc Trạo bị vỡ, thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai tập trung lực lượng mật thám, binh lính khủng bố trắng các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc... Nhiều cơ sở cách mạng trở thành mục tiêu đánh phá của địch. Hàng trăm cán bộ, đảng viên ở các làng bị bắt, tra tấn, giam cầm. Nhà tù Thanh Hóa chật ních các chiến sĩ cộng sản, chiến sĩ tự vệ du kích. Nhiều làng mạc bị triệt hạ, tài sàn của nhân dân bị tước đoạt.

Sự khủng bố của địch đã gây cho phong trào cách mạng của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn. Căm thù giặc cao độ, nhân dân ta bất chấp tù tội, gông cùm, súng đạn đã đứng lên đấu tranh bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở Đảng, chống khủng bố, đàn áp. Những đảng viên không bị bắt đã tự liên lạc với nhau tổ chức hội nghị ở làng Mao Xá (Thiệu Toán, Thiệu Hóa) vào tháng 11-1941, chủ trương củng cố lại phong trào cách mạng trong tinh. Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời gồm các đồng chí: Nghiêm Quý Ngãi, Hồ Sĩ Nhân, Đồ Đan Quế và Trần Kim Tế, cử đồng chí Nghiêm Quý Ngãi làm Bí thư.

Tỉnh ủy lâm thời tiến hành củng cố lại cơ sở cách mạng trong tỉnh, tìm cách liên lạc với Xứ ủy và trung ương Đảng, tổ chức rải truyền đơn ở nhiều nơi, kêu gọi nhân dân đuổi giặc cứu nước, treo cờ đỏ búa liềm ở Vân Đồn nhằm thông báo cho nhân dân trong tỉnh biết: Đảng bỏ Thanh Hóa vẫn còn và đang hoạt động, phong trào caeh mạng tất yếu sê đi đến thành công.

 Cuối năm 1941, Tỉnh ủy lâm thời lại bị khủng bố và tsn rã. toàn bộ Ban Chấp hành và nhiều quần chúng cách mạng bị địch bắt. Đầu năm 1942, một số cán bộ cộng sản chư Lê Tất Đắc, Trịnh Ngọc Điệt, Hoàng Tiến Trình, Hoàng Xung Phang... trốn khỏi nhà tù Ban Mê Thuột và trại tập trung Ly Hy lần lượt trở về Thanh Hóa, đấu mối với các cơ sở tiếp tục hoạt động.

Đầu tháng 7-1942, khi biết chắc chắn Tỉnh ủy thời đã tan rã, một hội nghị được tổ chức tại làng Thượng (xã Nga Tháng, Nga Sơn) thành lập Tỉnh ủy lâm thời và cử đồng chí Lê Tất Đắc làm Bí thư. Hội nghị đề nghị chủ trương công tác như: Ra báo “Đuổi giặc nước”, thành lập tổ chức ‘Thanh Hóa ái quốc hội” tìm cách liên lạc với Trung ương Đảng xin ý kiến chỉ đạo.

Cuối năm 1942, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã liên lạc được với cơ sở Đảng ở Hà Nội, nhận được Nghị quyết Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941) và chương trình hoạt động CL2 Mặt trận Việt Minh. Tỉnh ủy quyết định chuyển “Thanh Hóa ái quốc hội” thành “Mặt trận Việt Minh”, đưa phong trào cách mạng Thanh Hóa hòa nhập với phong trào cách mạng chung của cả nước.

Mặc dù vào thời điểm cuối năm 1941, đầu năm 1942 thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai thăna tay đàn áp và khủng bố trắng các cơ sở Đảng và tô chức cách mạng, nhùng chiến sỹ cách mạng chưa bị bắt vẫn dựa vào sự che chở của nhân dân aây dựng lại phong trào. Đồng chí Nguyễn ỈChẳc Thục (tên thật là Lê Văn Bệ) người làng Thượng Vôi (Xuân Hòa) sau khi bắt liên lạc được với các đồng chí cán bộ từ ngoài Bấc vào Thanh Hóa đã về Thọ Hải xây dựng cơ sở, được gia đình bà Đỗ Thị Đích làng Hải Trạch và gia đình bà Nguyễn Thị Bạn làng Thịnh Mỹ nuôi giấu, che chở, bắt mối với đồng chí Nguyễn Văn Anh (Thịnh Mỹ), Lê Văn Yến (Diên Hào) xây dựng tổ chức Việt Minh ở các làng, mỗi làng lúc đầu được ba, bốn người. Làng Thịnh Mỹ do đồng chí Nguyễn Văn Anh phụ trách; làng Hải Trạch do đồng chí Đào Trọng Tuyến phụ trách; làng Quân Đội do đồng chí Đinh Đức Tương phụ trách; làng Quần Lai do đồng chí Đỗ Bá Du phụ trách và làng Diên Hào do đồng chí Lê Văn Yến phụ trách.

Đầu năm 1943, đồng chí Lê Lam Châu (Lê Văn Tương) người làng Mỹ Thượng (Xuân Hòa) đã bắt liên lạc được với đồng chí Nguyễn Văn Hồ, người của Tỉnh ủy phân công phụ trách phong trào cách mạng Thọ Xuân. Đồng chí Nguyễn Văn Hồ và Mặt trận Việt Minh Thọ Xuân cử trực tiếp đồng chí Lê Lam Châu lãnh đạo Mặt Việt Minh tổng Diên Hào. Cũng từ đây cương lĩnh Mặt trận Việt Minh được phổ biến rộng rãi ở các làng, xã hai tổng Diên Hào và Kiên Thạch.

Mùa hè năm 1943, theo lệnh của phát xít Nhật, Pháp và quyền tay sai không thu thuế bằng tiền mà thu bằng thóc để phục vụ cho chiến tranh. Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy, Mặt trận Việt Minh các làng tổ chức cho nhân dân đấu tranh không nộp thuế bằng thóc và kêu gọi lý hương không thi hành lệnh thu thuế, không đi phu, đi lích cho địch, không để một lạng bông, cân thóc lọt vào tay Nhật - Pháp.

Cuối năm 1943 đầu năm 1944, phong trào đuổi giặc cứu nước trở thành cao trào rộng khắp phủ Thọ Xuân. Lực lượng tự vệ, du kích ngày một lớn mạnh. Lực lượng tự vệ chiến đấu Thọ Hải không ngừng phát triển, làng Thịnh Mỹ có 16 chiến sỹ do ông Ngô Đình Mẫn và ông Lưu Đình Sinh chỉ huy. Làng Hải Mao có 13 chiến sỹ do ông Đào Trọng Tuyến chỉ huy. Làng Quần Đội có 9 chiến sỹ do ông Đàm Duy Nhượng chỉ huy. Làng Quần Lai có 16 chiến sỹ do ông Đỗ Bá Thiên chỉ huy. Các đội tự vệ ngày đêm luyện tập, chủ yếu là tập võ dân tộc, vũ khí là giáo mác, kiếm, gậy. Trước sự phát triển của lực lượng tự vệ vũ trang cách mạng trong tổng, trong huyện, các vị chức dịch trong làng không dám đàn áp ngăn cấm, phần lớn ngả về phía cách mạng. Ở Quần Lai, tổ chức phân công ông Đỗ Bá Năm là quần chúng cách mạng ra làm Lý trưởng, tạo điều kiện cho các tổ chức cách mạng hoạt động. Lý trưởng làng Quần Đội là ông Đinh Đức Khoa hoạt động cho cách mạng, ông Nguyễn Văn Cặn là Lý trưởng làng Hải Mao đã ngả theo cách mạng, gia đình ông là nơi hội họp của các tổ chức. Chỉ còn Lý trưởng làng Thịnh Mỹ là đứng ở bên ngoài.

Mùa thu năm 1944, sông Chu lụt to, đê vỡ nhiều nơi làm lúa mùa và hoa màu mất trắng. Và cùng với sự vơ vét lương thực của Nhật - Pháp đã gây ra nạn đói khủng khiếp đầu năm 1945.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Thanh Hóa và cơ sở Đảng phủ Thọ Xuân, Mặt trận Việt Minh ở các làng đấu tranh chống âm mưu vơ vét thóc gạo của địch, tích cực chống đói, cứu đói với tinh thần “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Các tổ chức cứu quốc đã vận động các gia đình còn thóc ăn dành một phần lương thực ủng hộ các gia đình nghèo đói. Tổ chức cho nhân dân làm đơn đòi Tri phủ Thọ Xuân cứu tế. Tổ chức đến các nhà giàu vay thóc gạo.

Thông qua phong trào chống đói, cứu đói, Mặt trận Việt Minh các làng trong xã đã tập hợp được lực lượng, quần chúng đông đảo, chuẩn bị thời cơ vùng dậy đánh đuổi Nhật - Pháp.

Trước đó, vào cuối năm 1944, mặc dù bị thiên tai, mất mùa, phát xít Nhật thúc ép thực dân Pháp và bọn tay sai thu mua lương thực, bông sợi, bắt phu, bắt lính. Lãnh binh Nhật ở Thanh Hóa bắt buộc công sứ Pháp ở Thanh Hóa phải giao nộp cho Nhật 900.000 tạ gạo. Thi hành lệnh của Nhật, thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã đóng thuế điền thổ lên thêm 2,1kg thóc một sào vùng có nông giang và 1,4kg vùng không có nông giang, đồng thời ra lệnh cho tổng lý phải thu mua bình quân 120kg thóc một mẫu. Thủ đoạn bóc lột của Nhật - Pháp đã đè nặng lên đầu, lên cổ nông dân. Thực hiện lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng của tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hóa, Mặt trận Việt Minh các làng cùng các tổ chức cứu quốc tuyên truyền cho nhân dân: "Nạp lúa cho giặc là cấp lương thực cho giặc khoẻ tay bắn giết dân ta... thà bán rẻ cho nhân dân, còn hơn bán đắt cho giặc... giữ lấy thóc gạo mà ăn”.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Mũi nhọn đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta lại chĩa thẳng vào phát xít Nhật.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh Thọ Xuân, Mặt trận Việt Minh các làng tổ chức cho nhân dân đấu tranh vạch trần chiêu bài độc lập giả hiệu của bọn Việt gian Đại Việt. Các ông Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Mậu Thi nhiều lần rải truyền đơn của Việt Minh ở các đình làng và chợ Đường, nội dung kêu gọi nhân dân đoàn kết chống Nhật và chống lại âm mưu bán nước của bọn Việt gian Đại Việt. Bằng nhiều hình thức đấu tranh vận động, chỉ vài tuần tổ chức Thanh niên Đại Việt ở Thọ Xuân tan rã, được cách mạng giác ngộ, phần lớn anh em tham gia Đại Việt gia nhập tự vệ cứu quốc.

Tình hình thế giới

Từ tháng 5 năm 1945, phong trào cách mạng ở Thọ Xuân (gồm cả 16 xã vùng tả ngạn sông Chu ngày nay) đã lên tới đỉnh điểm. Các hoạt động tuyên truyền cổ động trong huyện đã nâng lên hình thức vũ trang tuyên truyền. Các cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Cuộc tuần hành thị uy tháng 6 năm 1945 của hàng ngàn quần chúng tự vệ tông Nam Dương. Mít tinh ở chợ Thạc tổng Phú Hà, cuộc mít tinh ở Đồng Cát (Thọ Nguyên)... đã lên án tội ác của phát xít Nhật, vạch trần chính phủ tay sai Trần Trọng Kim và chiêu bài độc lập giả hiệu của bọn Việt gian Đại Việt.

Thực hiện chủ trương của cấp trên để phù hợp với yêu càu của cách mạng, tháng 7 năm 1945, Mặt trận Việt Minh hai tổng Diên Hào và Kiên Thạch mở lớp tập huấn quân sự và chính trị. Lớp có 22 đội viên, được mở ở nhà đồng chí Hồ Văn Trang làng Kim Ốc (Xuân Hòa), thời gian 7 ngày, do đồng chí Hoàng Văn Ngữ làm giảng viên. Thọ Hải có đồng chí...làng Hương, Nguyễn Văn Mầm (Hải Trạch) tham gia. Từ lớp học này, các học viên đã nâng cao về trình độ lý luận chính trị, trình độ chỉ huy tác chiến và là nòng cốt của các đội tự vệ, du kích ở các làng.

Cuối tháng 7 năm 1945, một cuộc họp được tổ chức tại làng Hương Nhượng (Thọ Hải) gồm đảng viên và cán bộ Việt Minh ở các làng thuộc tổng Diên Hào, bàn chủ trương phát triển Mặt trận Việt Minh ở cơ sở, xây dựng các đoàn thể cứu quốc như: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc; phát triển lực lượng tự vệ vũ trang, tập hợp quần chúng, chuẩn bị một cuộc tuần hành thị uy cảnh cáo bọn tay sai thân Nhật. Vào thời điểm này, không khí chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyển rộn ràng khắp tổng, huyện. Chính quyền tay sai rệu rã. Ở chợ Hón[16] có ông Kháng Dương làm thợ rèn ngày đêm rèn gươm, giáo, mã tấu, dao tầm cho đội tự vệ vũ trang trong làng, cất giấu hàng tháng đợi lệnh Việt Minh giao cho cán bộ. Ông Nguyễn Mậu Mưu bí mật may cờ đỏ sao vàng và phù hiệu tự vệ. Lực lượng tự vệ, du kích luyện tập ngày đêm. Các đoàn thể cứu quốc vừa được thành lập cũng hoạt động rất sôi nổi. Tất cả đã sẵn sàng chuẩn bị cho khởi nghĩa.

 Từ ngày 13 đến ngày 16-8-1945, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức hội nghị tại làng Mao Xá (Thiệu Toán, Thiệu Hóa) bàn biện pháp xúc tiến việc khởi nghĩa. Ngày 15-8, nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, Tỉnh ủy quyết định khởi nghĩa giành chính quyền trên địa bàn toàn tỉnh và hướng dẫn việc thành lập ủy ban khởi nghĩa, ủy ban nhân dân lâm thời các huyện.

Đồng chí Hoàng Sĩ Oánh được Tỉnh ủy chỉ định làm Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa và Chủ tịch ủy ban nhân dân lâm thời huyện Thọ Xuân.

Ngày 17-8, ủy ban khởi nghĩa đồng thời là Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Thọ Xuân được thành lập gồm các đồng chí: Hoàng Sĩ Oánh, Hoàng Văn Cài. Hoàng Văn Ngữ, Hồ Sĩ Nhân, Nguyễn Mậu Sung, Nguyễn Mậu Kiện và Lê Xuân Tại. Ủy ban khởi nghĩa chỉ định hai đồng chí Nguyễn Mậu Sung và Hồ Sĩ Nhân làm Trưởng ban khởi nghĩa hai tổng xung yếu quanh huyện lỵ là Kiên Thạch và Nam Dương.

Tối ngày 18-8, đồng chí Nguyễn Văn Anh và Nguyễn Văn Ân bí mật về Dốc Láng (Xuân Hòa) nhận kế hoạch và lệnh khởi nghĩa. Hội nghị do đồng chí Hồ Sỹ Nhân chủ trì. Sau khi nghe các làng trong tổng Diên Hào báo cáo về lực lượng tự vệ vũ trang từng làng và kế hoạch khởi nghĩa của tổng: nhanh chóng tập trung lực lượng tự vệ ở các làng, đem theo vũ khí và cờ đỏ sao lực lượng tự vệ vũ trang tổng Diên Hào tập trung ở một địa điểm. Các làng Hương Thôn, Mậu Thịnh lên đến Mục Sơn tập trung tại Tứ Trụ, do đồng chí Nguyễn Văn Anh ch huy; các làng vùng xuôi tập trung tại làng Tỉnh Thôn (Xuân Hòa) do đồng chí Hồ Sỹ Nhân trực tiếp chỉ huy. Khi nhận được lệnh khởi nghĩa, lực lượng tự vệ vũ trang làng bắt hết những phần tử thân Nhật, đến các nhà Lý, Hương, chức dịch thu đồng triện (con dấu), giấy tờ sổ sách. Sáng ngày 19-8, tập trung quần chúng tại đình làng mít tinh chào mừng khởi nghĩa thành công, chính quyền về tay nhân dân.

Vào khoảng 23 giờ ngày 18-8-1945, hơn 200 tự vệ của các làng gươm giáo tuốt trần, hàng ngũ chỉnh tề tập trung tại Hương Thôn đợi lệnh khởi nghĩa. Trước đó, lệnh giới nghiêm đã được ban bổ. Người không phận sự và trẻ em không được ra đường, đặt vọng gác kiểm tra kỹ người qua lại.

Đúng 24 giờ ngày 18-8-1945, lệnh khởi nghĩa được ban hành. Tự vệ nhanh chóng bao vây khống chế các phần tử thân Nhật, hẹn các Lý dịch sáng ngày mai ra đình làng nộp đồng triện cùng địa bạ, khế ước. giấy tờ... và nghe Mặt trận Việt Minh tuyên bố các chủ trương chính sách của cách mạng.

Sáng 19-8, lực lượng tự vệ cùng đông đảo nhân dân tập trung tại đình làng chào mừng khởi nghĩa thành công, công bố đường lối chính sách của Mặt trận Việt Minh và danh sách các vị trong Ủy ban nhân dân lâm thời các làng, thu đồng triện, sổ sách, giấy tờ, khế ước của chế độ cũ, tuyên bố chính quyền đã về tay nhân dân.

Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trên địa bàn huyện Thọ Xuân diễn ra nhanh chóng và Việt Minh chiếm ưu thế tuyệt đối. Rạng sáng ngày 19 tháng 8 năm 1945, lực lượng tự vệ, du kích do đồng chí Hoàng Sỹ Oánh, Hoàng Văn Cài, Nguyễn Mậu Kiện đã nhanh chóng bao vây và tiến công phủ đường. Tri phủ Thọ Xuân là Phan Quốc Lương đã bàn giao ấn tín và đầu hàng vô điều kiện. Một đội tự vệ du kích do đồng chí Hoàng Văn Ngữ chỉ huy kết hợp với trung đội tự vệ do đồng chí Hồ Sĩ Nhân chỉ huy lên giải phóng sở Bang tá và đồn Bái Thượng. Dọc đường lượng tự vệ và du kích do đồng chí Nguyền Văn Anh phụ trách, tự vệ tổng Bái Đô kết hợp, đã nhanh chóng giải phóng sở Bang tá và đồn Bái Thượng. Trên đường về đến rừng Lim được nhân dân làm thịt bò, đồ xôi khao tự vệ chiến thắng'1

Sáng ngày 20-8-1945, lực lượng tự vệ và quần chúng nhân dân các làng ở Thọ Hải tấp nập kéo về phủ lỵ Thọ Xuân dự mít tinh chào mừng Cách mạng tháng Tám thành công và đón nhận ủy ban nhân dân lâm thời huyện Thọ Xuân ra mắt quốc dân đồng bào.

Đồng chí Hoàng Sĩ Oánh, Chủ tịch ủy ban nhân dân lâm thời huyện đọc diễn văn chào mừng thành công của cuộc khởi nghĩa, công bố danh sách ủy ban nhân dân lâm thời huyện, đồng thời kêu gọi nhân dân trong huyện đoàn kết bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng chế độ mới.

Cuộc mít tinh đã hô vang những khẩu hiệu: Ủng hộ chính quyền cách mạng! Việt Nam hoàn toàn độc lập! Việt Nam muôn năm!

Ngày 19 và 20-8-1945, các đồng chí Nguyễn Văn Anh, Lê Văn Yến, Nguyễn Văn Ân đại diện cho Mặt trận Việt Minh huyện tổ chức khai hội ở các làng để mừng khởi nghĩa thành công, bổ sung lực lượng tự vệ, du kích, củng cố các đoàn thể cứu quốc như thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nông dân, thiếu nhi...

Là một vùng quê có tiếng là trù phú, trên bến dưới thuyền, nửa quê nửa thị, cận lộ, cận giang, giao thông thủy bộ đều tiện lợi, lại có chợ lớn nổi tiếng trong vùng, vùng đất sản sinh ra nhiều nhân vật lịch sử, văn hóa... Gần 100 năm dưới sự cai trị hà khắc của thực dân phong kiến, người dân các làng Hương Nhượng, Mậu Thịnh Mỹ, làng Hón... cơm không đủ no, áo không đủ ấm, nền văn hóa dân tộc ngày một suy đồi lai căng, dân trí ngày càng ngu muội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, người dân Thọ Hải đứng lên làm cách mạng, giành chính quyền về tay nhân dân, người dân được tự do làm chủ bản thân, làm chủ đất nước.

Cách mạng tháng Tám thành công là kết quả tất yếu của 15 năm Đảng bộ Thọ Xuân, vừa tổ chức lực lượng và lãnh đạo các cao trào cách mạng. Đó là quá trình đấu tranh kiên cường bền bỉ, đầy oanh liệt, đầy thông minh. sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong huyện. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám chính là thắng lợi của các cao trào kế tiếp nhau mà các chiến sĩ cộng sản Thọ Xuân đã dày công tổ chức và lãnh đạo, trong đó Thọ Hải là một mắt xích nhỏ nối tiếp quá trình, góp phần thành công trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc của huyện nhà. Phong trào cách mạng ở Thọ Hải có từ rất sớm, từ cuối năm 1929, hai đảng viên Tân Việt là Trịnh Văn Ty (Cựu Khai) người làng Quân Bình (Hạnh Phúc) và Lê Huy Hoàng (giáo Huỳnh) người làng Vân Lộ (Thọ Nguyên) về làng Diên Hào (Thọ Lâm) bắt mối với ông Lê Văn Yến. Lưu Đình Dũng xây dựng phong trào, sau đó về làng Thịnh Mỹ giác ngộ cách mạng cho ông Nguyễn Bá Kỷ, Trịnh Quang Trai, ông Đỗ Bá Du, Đỗ Bá Năm ở Quần Lai. Và khi Đảng ta ra đời, phần lớn tổ chức Tân Việt hoạt động theo đường lối Đảng cộng sản.

Thời kỳ Hội Tương ái hữu (1936 - 1939) được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Mậu Sung, Trịnh Hữu Thường, các đồng chí Nguyễn Văn Anh, Trịnh Quang Trai, Nguyễn Bá Kỷ, Đào Trọng Tuyến, Đỗ Bá Du, Đỗ Bá Năm... đã vận động quần chúng nhân dân đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, chống bắt phu bắt lính, đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, cải cách hương thôn... đã đem lại quyền lợi cho dân dân. Mặc dù do yếu tố khách quan nên các chiến sỹ tự vệ Thọ Hải là Nguyễn Văn Anh, Đỗ Bá Du, Nguyễn Văn Mầm không có mặt ở điểm tập kết Đa Ngọc để lên chiến khu Ngọc Trạo, mặc dù kẻ địch truy lùng, khủng bố gắt gao, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đồng chí đã dựa vào vỏ bọc của nhân dân. xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang ở các làng ngày một lớn mạnh, làm nòng cốt cho lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền sau này. Trong những năm cuộc đấu tranh cách mạng cam go ác liệt nhất, nhân dân Thọ Hải vẫn một lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, bất chấp tù tội, gông cùm xiềng xích, nhân dân Thọ Hải sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, nuôi giấu và bảo vệ cán bộ cách mạng, tiêu biểu như gia đình ông Nguyễn Bá Ký, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Quang Trai, Đỗ Thị Đích, Nguyễn Thị Bạn... Tất cả hòa chung vào dòng chảy lịch sử dân tộc, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do, no ấm hạnh phúc cho nhân dân.

Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân xã Thọ Hải cùng nhân dân cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Độc lập-Tự do thực hiện nhiệm vụ xây dựng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, sẵn sàng kháng chiến bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương III

XÃ THỌ HẢI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ (1945 - 1975)

 

I. THỌ HẢI CHỐNG THÙ TRONG GIẶC NGOÀI, DIỆT GIẶC ĐÓI, GIẶC DỐT, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1945-1954)

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn thử thách do chế độ thực dân phong kiến để lại: Nền sản xuất nông nghiệp manh mún, lạc hậu, nạn đói đầu năm 1945 làm chết hơn 2 triệu người, hơn 90% dân số mù chữ, ngân sách quốc trống rỗng. Trong khi đó, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa quân đội Đồng Minh kẻo vào miền Bắc nước ta, mang theo bọn Việt gian Quốc dân đảng, mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Ờ miền Nam, núp sau quân Đồng minh Anh, quân đội Pháp gây hấn ở Nam Bộ, âm mưu đặt ách thống trị lên các nước Đông Dương một lần nữa.

Tại Thanh Hóa, một trung đoàn Tưởng Giới Thạch kéo vào thị xã Thanh Hóa, chiếm đóng các vị trí trọng yếu, chúng uy hiếp chính quyền cách mạng non trẻ, đòi chính quyền ta cung cấp lương thực, thực phẩm cho chúng. Ngang ngược hơn, chúng đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang cách mạng, chúng tung tiền giấy Quan Kim mất giá, mua vơ vét hàng hóa, gây thiệt hại cho nền kinh tế tỉnh ta vốn đã suy kiệt.

Vchính trị, chúng ép chính quyền cách mạng đưa tên phản động Quốc dân đảng Đỗ Văn giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền cấp tỉnh. Nuôi dường và trang bị vũ khí quân trang, quân dụng cho bọn Quốc Dân đảng lập ra Đệ lục chiến khu ở ấp Di Linh (nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn) và cài cắm bọn phản động về các vùng giáo dân, tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, xây dựng lực lượng đón quân đội Pháp vào xâm lược nước ta một lần nừa.

Nằm trong hoàn cảnh chung của cả nước, chính quyền cách mạng huyện Thọ xuân trong những ngày đâu mới thành lập cũng đứng trước những khó khăn thách thức tường chừng không thể vượt qua. Ngân sách trống rỗng, mọi hoạt động của chính quyền đều phải dựa vào các đoàn thể và sự đóng góp của nhân dân. Bộ máy chính quyển từ huyện xuống đến làng mới thành lập còn non tre. Lúng túng trong việc quản lý và điều hành xã hội.

Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, tình trạng thiếu lương thực diễn ra trầm trọng. 95% dân số mù chữ. Tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, hút thuốc phiện, mê tín dị đoan còn phổ biến.

Lợi dụng tình thế khó khăn, bọn phản cách mạng liên kết với bọn Quốc dân đảng công khai hoặc ngấm ngầm chống phá cách mạng. Chúng cho tay chân chui vào các tô chức đoàn thể của ta, lợi dụng danh nghĩa cách mạng xuyên tạc chủ trương đường lối cùa Đảng, Chính phủ, đe dọa uy hiếp nhân dân, tìm cách phá cơ sở cách mạng.

Những hoạt động của bọn phản cách mạng đã bị chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng ngăn chặn triệt phá. Âm mưu thủ đoạn của chúng bị vạch trần trước quần chúng nhân dân.

Sau khởi nghĩa thành công trên cả nước, ngày 3 tháng 9 năm 1945, một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Chủ tịch Hô Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Chính phủ và nêu 6 việc cấp bách phải làm ngay:

Một là: Phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói, mở một cuộc lạc quyên để giúp đỡ người nghèo.

Hai là: Phát động phong trào chống nạn mù chữ.

Ba là: Tổ chức tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Bốn là: Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ thói hư tật xấu do chế độ cũ để lại.

Năm là: Bỏ ngay 3 thứ thuế: Thuế thân, thuế chợ và thuế đò. Cấm hút thuốc phiện.

Sáu là: Tuyến bố tự do tín ngưỡng và lương - giáo đoàn kết.

1. Thọ Hải trong nhưng năm đầu kháng chiên chống thực dân pháp xâm lược (1946 - 1950)

Thực hiện lời kêu gọi “chống giặc đói” của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, ủy ban nhân dân lâm thời và Mặt trận Việt Minh huyện Thọ Xuân đã khẩn trương thành lập Ban Cứu đói, tổ chức quyên góp tiền bạc, thóc gạo giúp đỡ người bị đói, tổ chức vay lúa gạo của nhà giầu, phát động phong trào “Hù gạo tiết kiệm” để giúp đờ những gia đình đứt bữa.

Ở Thọ Hải, Mặt trận Việt Minh và ủy ban nhân dân lâm thời các làng kết hợp với các tổ chức đoàn thể cứu quốc như: Thanh niên, phụ nữ, nông dân... đến từng nhà còn thóc gạo ăn, vận động ủng hộ, cho vay thóc gạo, khoai giúp đỡ các gia đình đứt bừa với tinh thần “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”. Không những giúp nhà nghèo trong làng bớt 5 khăn mà còn chu cấp lương thực, tiền bạc cho lực lượng tự vệ, du kích trong làng luyện tập, mua sắm vũ khí, phần cùng cả huyện ủng hộ nhân dân các huyện Quảng Xương, Hậu Lộc, Tĩnh Gia và các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh. Bên cạnh đó đã phát động toàn dân tích cực tăng gia sản xuất, khai khẩn đất hoang, trước mắt là trồng cây màu ngắn ngày để chống đói như ngô, khoai, rau, đậu... Nhờ vậy chỉ một thời gian ngắn, những đồng ngô, bãi khoai, rau đậu, bầu bí đã phát triển xanh tốt, nạn đói được đẩy lùi, đời sống nhân dân dần đi vào ổn định.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, về mặt phân chia hành chính cơ bản chưa thay đổi: Tỉnh, huyện, tổng, làng, về chính quyền mỗi làng có một ủy ban nhân dân lâm thời gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên quản lý hành chính, củng cố và điều hành mọi công việc trong làng. Mặt trận Việt Minh trong làng gồm Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm và các tổ chức thành viên như: Thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, thiếu niên cứu quốc.

Song song với phong trào “Diệt giặc đói” là phong trào “Diệt giặc dốt” được Mặt trận Việt Minh và chính quyền các làng phát động sâu rộng, lấy các tổ chức đoàn thế cứu quốc làm đầu tàu. Cuộc vận động nhanh chóng trở thành cao trào mạnh mẽ. Theo chủ trương của huyện, mỗi làng, xã thành lập một ban Bình dân học vụ là các thầy giáo, người có chữ với phương châm “người biết chữ dạy người chưa biết chữ”. Các lớp học được mở vào buổi trưa, buổi tối ở đình làng, chùa, nhà dân. Các gia đình tự nguyện cho mượn gỗ ván, cánh cửa để làm bảng, làng nào cũng có lớp học (làng nhỏ như Quần Lai cũng có 8 lớp, làng lớn như Thịnh Mỹ có 15 lớp). Nhiều hình thức thúc đẩy việc học như: đón chợ đoán chữ, người biết đọc đi vào cửa “vinh quang”, người không đọc được đi vào cửa “lạc hậu”. Nhiều người lăn lộn với phong trào như: ông Hoàng Văn Chức, ông Hữu, ông Huyến... Kết quả chỉ một thời gian ngắn, đa số nhân dân trong các làng đã biết đọc, biết viết.

Bên cạnh các lớp Bình dân học vụ, con em của các làng còn được đến các trường Tiểu học (từ lớp nhất đến lớp năm) ở Thọ Xuân, Bái Thượng, Quảng Thi (Xuân Thiên) để học.

Cùng với “Diệt giặc đói”, “giặc dốt”, sức khoẻ của nhân dân cũng được Mặt trận Việt Minh và chính quyền luôn đặc biệt quan tâm. Cùng với đội ngũ các thầy đông y, bắt mạch, kê đơn cho người bệnh uống thuốc Nam, thuốc Bắc, cuộc vận động “ăn chín uống sôi”, “nằm màn”, “vệ sinh cá nhân”, “làm vệ sinh thôn xóm” được phát động rầm rộ, đã góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các dịch bệnh phát sinh như đau mắt đỏ, tả lỵ, đậu mùa... nâng cao sức khoẻ cho nhân dân.

Các cuộc vận động chống mê tín, dị đoan, các tập tục lạc hậu, vốn được thực hiện từ những năm 1936 - 1939 nay khơi dậy. Chỉ riêng làng Thịnh Mỹ, nơi có chợ Đường đã có 15 bàn đèn hút thuốc phiện, một đại lý bán Phông - ten, nhiều sòng bạc, rượu chè cùng nạn mê tín, dị đoan đã bị chính quyền cấm hẳn. Những tục lệ tế lễ được giảm bớt, chỉ giữ lệ, cưới xin, ma chay không còn nặng nề, được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng, mọi người đều được bình đẳng, không  phân biệt tôn giáo, dân bản xứ, người ngụ cư. An ninh trật tự làng, xã được bảo đảm.

Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch về tổ chức quyên góp “Tuần lễ  vàng”, “Tuần lễ đồng” để xây dựng “Quỹ độc lập”, dưới sự chỉ đạo của chính quyền và Mặt trận Việt Minh huyện, Ban vận động của các làng xã Thọ Hải đến từng gia đình tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc vận động là: “Quyết bảo vệ giữ vững nền độc lập non trẻ". Nhiều gia đình góp cả đôi khuyên tai vàng, nồi đồng, xanh đồng; có gia đình đóng góp cả đồ thờ bằng đồng. Chỉ trong 2 tuần, các làng trong xã Bắc Sơn (Thọ Lâm, Thọ Diên, Thọ Hải ngày nay) đã đóng góp được gần 3 lạng vàng và hơn 700 kg đồng. Cuộc vận động xây dựng “Quỹ độc lập" thành công là biểu hiện tinh thần thiết tha yêu nước và quyết tâm giữ vững nền độc lập của nhân dân Thọ Xuân nói chung và nhân dân xã Thọ Hải nói riêng.

Để đảm bảo cho sự nghiệp chống thù trong giặc ngoài, diệt “giặc đói”, “giặc dốt” thắng lợi, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Thanh Hóa, đầu tháng 10 năm 1945, Mặt trận Việt Minh huyện Thọ Xuân, hội nghị thành lập Đảng bộ huyện được tiến hành.

Hội nghị đã tiến hành kiểm điểm tình hình trong huyện từ sau ngày khởi nghĩa và đề ra những chủ trương công tác mới nhằm tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và củng cố chính quyền từ huyện xuống cơ sở, tập trung chống giặc đói, giặc dốt và chuẩn bị sẵn sàng chống giặc ngoại xâm, phát triển đảng viên và chi bộ cơ sở, phân công cán bộ phụ trách các mặt công tác quan trọng.

Hội nghị đã tiến hành bầu Huyện ủy lâm thời gồm 5 đồng chí: Hoàng Sĩ Oánh, Lê Xuân Tại, Hồ Sĩ Nhân, Dương Văn Du và Hoàng Văn Ngữ. Đồng chí Dương Văn Du được bầu làm Bí thư Huyện ủy. Việc thành lập chi bộ và Huyện ủy lâm thời dựa trên cơ sở các chi bộ sàn thời kỳ 1930 - 1945, đã tạo ra sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, đáp ứng nhu cầu phát triển của cách mạng huyện Thọ Xuân.

Để phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động và hiệu lực hoạt động của chính quyền nhân dân, cuối năm 1945, theo sắc lệnh số 63 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Huyện ủy Thọ Xuân đã chỉ đạo kiện toàn bộ máy hành chính các cấp từ huyện xuống cơ sở, bãi bỏ các đơn vị hành chính cấp tổng, lập đơn vị hành chính cấp xã bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên, làm nhiệm vụ của một cấp chính quyền cơ sở, có chức năng tổ chức, quản lý và điều hành xã hội trên địa bàn xã và phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ.

Tổng Diên Hào được chia làm 3 xã: Bắc Sơn, Đô Lương và Thái Hòa. Xã Bắc Sơn gồm 11 làng trại: Diên Hào, Hiền Hào, Tân Lâm, Tân Thành, Trái Dùn, Quần Ngọc, Đăng Lâu, Tân Phúc, làng Đèn, làng Hương, Hương Thôn, Mậu Thịnh và làng Hải Trạch, do ông Lưu Đình Dùng làm Chủ tịch, ông Cao Văn Uy (Thịnh Mỹ) làm Phó Chủ tịch, ủy viên thư ký là ông Ngô Đình cẩn (Thịnh Mỹ); ông Trần Văn Nhâm (Hải Trạch) phụ trách quân sự và một số ủy viên khác. Xã Thái Hòa gồm các làng xã Xuân Hòa, xã Xuân Trường và thị trấn Thọ Xuân ngày nay. Xã Đô Lương (sau đổi tên là xã Thọ Sơn) gồm các làng Quần Đội, Quần Lai, làng Phấn Thôn, làng Hải Lịch, làng Bún, làng Hón... do ông Đỗ Ngọc Tường làm Chủ tịch; ông An Văn Ngột làm Phó Chủ tịch và các ủy viên khác.

Cùng với việc củng cố chính quyền, các đoàn thể cứu quốc từ huyện xuống xã cũng được kiện toàn, mở rộng. Các tổ chức đoàn thể xây dựng chương trình hoạt động cụ thể, phối hợp với nhiệm vụ cách mạng, tình hình thực tế ở địa phương để hoạt động.

Ủy ban nhân dân xã ra đời đã củng cố thêm một bước cho chính quyền cách mạng vững mạnh, đồng thời mở rộng quyền tự do dân chủ của nhân dân và quản lý xã hội theo pháp luật.

Để ủng hộ đồng bào, chiến sỹ Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Huyện ủy Thọ Xuân đã chỉ đạo các trong đó có Bắc Sơn, Đô Lương tổ chức mít tinh ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến, phản đối thực dân xâm lược. Cuối tháng 10-1945, huyện Thọ Xuân tổ chức tiễn đưa những thanh niên ưu tú lên đường Nam tiến, xã Bắc Sơn và Đô Lương có các ông: Trần Văn Quý, Trịnh Đình Nùng, Trương Quốc Lương, Phạm Đình Tơn và Trần Hữu Đương(l). Đặc biệt có bà Trương Thị Mỹ Đô là một trong 6 nữ chiến sỹ của Thanh Hóa đi Nam tiến.

Nhằm nâng cao kiến thức quân sự như bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê và phương pháp tác chiến trên địa bàn nông thôn cho lực lượng tự vệ, dân quân du kích các xã: Bắc Sơn, Đô Lương đã cử cán bộ từ Tiểu đội trưởng đến Đại đội trưởng về làng Hội Hiền (xã Tây Hồ) dự lớp tập huấn ngắn ngày. Giáo viên quân sự là ông Cao Thanh Tùng và ông Đội Huấn, do đồng chí Hoàng Văn Ngữ, ủy viên quân sự trong ủy ban nhân dân lâm thời huyện Thọ Xuân phụ trách. Từ lớp tập huấn này, trình độ chiến đấu và chỉ huy tác chiến của lực lượng vũ trang các xã đã nâng cao rõ rệt.

Từ đầu tháng 12-1945, Huyện ủy, ủy ban nhân dân lâm thời huyện và các tổ chức đoàn thể quần chúng từ huyện đến xã đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa đầu tiên, làm cho mọi người hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, thể lệ bầu cử Quốc hội.

Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, trước ngày bầu cử Mặt trận Việt Minh và chính quyền xã Bắc Sơn tổ chức mít tinh ủng hộ chính quyền cụ Hồ Chí Minh.

Ngày 06-01-1946, tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I được tiến hành như một ngày hội lớn của dân tộc. Tại các điểm bầu cử như ở Hương Thôn, làng Bún, Mậu Thịnh, Diên Hào biểu ngữ, cờ hoa lộng lẫy. Từ rất sớm, nhân dân đã đến nơi bỏ phiếu, tự lựa chọn những người xứng đáng bầu vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước với ý thức “chọn mặt gửi vàng”; Có 98% số cử tri đi bỏ phiếu. Khu vực huyện Thọ Xuân đồng chí Hoàng Sỹ Oánh trúng cử với số phiếu cao nhất.

Tháng 4-1946, sau bầu cử Hội đồng nhân dân hai cấp tỉnh và xã. Hội đồng, nhân dân bầu ra ủy ban hành chính các cấp, ủy ban hành chính xã Bắc Sơn do ông Trần Hữu Khuếch làm Chủ tịch, ông Nguyễn Văn Ky làm Phó Chủ tịch và các ủy viên khác.

Đáp ứng nhu cầu mới của cách mạng, theo ánh sáng của Hồ Chủ tịch, nhằm đoàn kết mọi đảng phái, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân, Hội liên hiệp quốc dân thành lập, gọi tắt là Hội Liên Việt. Mặt trận Việt Minh là thành viên.

Tháng 6-1946, Hội Liên Việt xã Bắc Sơn ra đời, hàng ngàn hội viên tham gia. Ông Lưu Công Năng cử làm Chủ tịch. Sự ra đời của Hội Liên Việt không 5 tạo ra sự đoàn kết trong nhân dân, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Nhà nước dân chủ non trẻ, còn là sức mạnh tổng hợp để nhân dân xã Bắc Sơn  cùng nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Thọ Hải cùng nhân dân cả nước làm nên sự kiện lịch sử hào hùng, oanh liệt và diệu kỳ.

Nhà nước dân chủ Việt Nam ra đời trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Thù trong, giặc ngoài vây hãm. Giặc đói, giặc dốt hoành hành. Sản xuất đình đốn, ngân quỹ quốc gia trống rỗng... Bằng đường lối chiến lược, sách lược khôn khéo, linh hoạt, cương quyết, táo bạo, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức lãnh đạo dân tộc Việt Nam phá thế vây hãm của kẻ thù, bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng, chuẩn bị điều kiện cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Đầu tháng 12-1946, sau khi đánh chiếm được Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, thực dân Pháp thẳng tay gạt bỏ mọi khả năng thương lượng hòa bình thực hiện kế hoạch xâm lược Đông Dương bằng vũ lực. Thực dân Pháp đã bắt buộc nhân dân ta phải đứng lên cầm vũ khí bảo vệ nền độc lập, tự do mà nhân dân ta mới giành được.

Để bảo vệ Tổ quốc, ngày 18-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (nay là Hà Nội) quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên quy mô toàn quốc.

Đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”. Người nói:

 "Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ..."

Thực hiện lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, ủy ban hành chính huyện Thọ Xuân, nhân dân trong huyện nói chung, nhân dân xã Bắc Sơn nói riêng đã nhất tề đứng lên sẵn sàng đánh đuổi thực dân Pháp.

Đúng một tuần sau ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 26-12-1946, một sự kiện chính trị lớn đã diễn ra tại nhà đồng chí Lê Văn Yến làng Diên Hào. Hội nghị thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của xã Bắc Sơn được tiến hành. Đồng chí Lê Xuân Tại thay mặt cho huyện ủy, đồng chí Nguyễn Mậu Sung thay mặt cho ủy ban hành chính huyện về dự và chỉ đạo. Chi bộ Đảng xã Bắc Sơn có 6 đảng viên, gồm các đồng chí: Lê Văn Yến, Lưu Đình Dũng, Lưu Công Năng, Nguyễn Văn Anh, Ngô Đình Cẩn và Lưu Đình Sinh. Đồng chí Lê Văn Yến bầu làm Bí thư chi bộ.

Hội nghị tập trung kiểm điểm công tác từ khi khởi nghĩa thành công đến thời điểm toàn quốc kháng chiến. Hội nghị đánh giá: Chính quyền cách mạng được củng cố và ngày càng vững mạnh, các tổ chức đoàn thể thành viên của Mặt trận Việt Minh như thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, thiếu nhi được củng cố, kiện toàn, hoạt động có hiệu quả; tình làng nghĩa xóm gắn bó keo sơn. Lực lượng tự vệ, du kích được biên chế thành trung đội, tiểu đội, thường xuyên luyện tập, mua sắm vũ khi sẵn sàng chiến đấu.

Đời sống dân sinh được cải thiện, nạn đói được chấm dứt, nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, ủng hộ tiền, gạo, thực phẩm để tự vệ, du kích luyện tập canh phòng.

Các hủ tục lạc hậu như ma chay, tế lễ, bói toán, tệ cờ bạc, rượu chè... được hạn chế, không còn cảnh bàn đèn thuốc phiện bán công khai, quyền dân chủ được phát huy.

Hội nghị đặt ra một số nhiệm vụ trước mắt là: Tuyên truyền để mọi người hiểu rõ đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng, thấm nhuần sâu sắc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch. Tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, kiến quốc. Tiếp tục phát động phong trào “Bình dân học vụ” để xóa nạn mù chữ. Phát động nhân dân thực hiện ăn chín, uống sôi, thực hiện vệ sinh cá nhân, làng xóm; vận động, giúp đỡ thanh niên lên đường tòng quân đánh giặc. Kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời và đập tan mọi âm mưu đánh phá chính quyền cách mạng của bọn Việt gian động Quốc dân đảng.

Ngày 6-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi toàn dân “Tiêu thổ kháng chiến”. Ban tiêu thổ kháng chiến được thành lập từ huyện đến xã. Tự vệ dân xã Bắc Sơn cùng với lực lượng các xã, tiến hành tiêu thổ một số nhà tầng, nhà kiên cố ở phố Thọ Xuân, phố Đầm, Bái Thượng, Tứ Trụ... đồng thời cùng với nhân dân rào làng chiến đấu, đào giao thông hào, cất giấu lương thực, đào hào, đắp ụ trên đường 47 (nay là đường 157) để ngăn chặn bước tiến bằng cơ giới của địch, đặt vọng gác, thực hiện phòng gian bảo mật...

Đầu năm 1947, ủy ban kháng chiến các cấp được  thành lập để trực tiếp tổ chức chỉ đạo nhân dân tham gia kháng chiến.

Ủy ban kháng chiến xã Bắc Sơn ra đời do ông Ngô Đình Cới làm Chủ tịch và một số ủy viên với chức năng huy động nhân lực, vật lực cho kháng chiến, ủy ban hành chính vẫn được duy trì thực hiện chức năng quản lý kinh tế, văn hóa xã hội.

Ngày 20-2-1947, một sự kiện lịch sử trọng đại đã diễn ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thăm Thanh Hóa, trực tiếp giao nhiệm vụ cho Đảng bộ, nhân dân tỉnh nhà xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu: Căn cứ chiến lược của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Người chỉ thị:

“ Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu phải làm sao cho mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự phải là kiểu mẫu, làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu...”

Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch, Chi bộ và nhân dân xã Bắc Sơn đẩy mạnh nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc. Phong trào thi đua yêu nước được nhân dân trong xã tích cực tham gia. Đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân trong xã no đủ, tích cực đóng góp cho kháng chiến, nuôi dân quân, tự vệ địa phương, đóng góp hàng ngàn cây tre, luồng, nứa, gỗ để xây dựng làng chiên đấu.

Trước đó, vào tháng 01-1947, hàng trăm thanh niên cứu quốc của xã Bắc Sơn cùng với 2.000 thanh niên cứu quốc trong huyện về rừng Lam Kinh dự hội trại. Tại đền thờ, thanh niên đã tuyên thệ trước anh linh anh hùng dân tộc Lê Lợi, tình nguyện gia nhập Vệ quôc đoàn, bảo vệ quê hương, đất nước.

Thực hiện chủ trương của Hội Phụ nữ quân khu IV và Hội phụ nữ tỉnh Thanh Hóa, tháng 7-1947, Hội mẹ chiến sĩ Thọ Xuân được thành lập và sau đó hội 51 mẹ chiến sĩ xã Bắc Sơn ra đời do mẹ Vang làm Hội trưởng, suốt cả cuộc kháng chiến, Hội mẹ chiến sĩ xã đã đi đầu trong các cuộc vận động nhân dân ủng hộ bộ đội, thương binh về làng nuôi dưỡng, động viên chị em phụ nữ may vá quần áo cho chiến sĩ, vận động nhân dân " quà bánh, thuốc men chăm sóc thương bệnh binh, động viên chị em phụ nữ lấy chồng là thương binh... tiêu biểu như mẹ Vang, mẹ Cả, mẹ Nghiêm.

Tròn một năm sau khi chi bộ Đảng Bắc Sơn được thành lập, chi bộ đã chỉ đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân trong xã thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, toàn dân ủng hộ kháng chiến. Hàng chục thanh niên lên đường tòng quân đánh giặc. Nền kinh tế trong xã nhanh chóng ổn định và phát triển. Chi bộ Đảng Bắc Sơn được Huyện ủy Thọ Xuân công nhận là Chi bộ chính thức.

Tháng 12-1947, thực hiện chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và tỉnh đội dân quân Thanh Hóa, cơ quan Huyện đội Thọ Xuân được thành lập, do đồng chí Lê Cần làm Huyện đội trưởng. Cơ quan quân sự huyện có nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy, chính quyền vạch kế hoạch phòng, xây dựng, huấn luyện cho lực lượng dân quân du kích; chỉ đạo tác chiến trên địa bàn. Đến đầu năm 1948, xã Bắc Sơn mỗi làng có 1 trung đội dân quân tự vệ. Cả xã có 1 Đại đội du kích gồm 3 trung đội. Thực hiện phong trào “luyện quân lập công”, nâng cao trình độ quân sự như: Học tập đường lối kháng chiến của Đảng; 10 lời thề và 12 điều kỷ luật của quân đội nhân dân Việt Nam; huấn luyện chiến lược đánh du kích, kỹ thuật bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn xây dựng làng chiến đấu.

Nhằm đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng vả củng cố chính quyền, tháng 3 năm 1948, Huyện ủy chỉ đạo hợp nhất hai ủy ban, ủy ban kháng chiến và ủy ban hành chính các cấp thành ủy ban Kháng chiến - Hành chính.

Trước đó, từ tháng 6-1947, hai làng Quần Đội và Quần Lai tháp nhập về xã Bắc Sơn. Đầu năm 1948, xã Bắc Sơn đổi tên thành xã Thọ Hải.

Ủy ban kháng chiến hành chính xã Thọ Hải do ông Trần Hữu Khuếch làm Chủ tịch. Cùng với việc hợp nhất hai ủy ban và xã Thọ Hải ra đời, các tổ chức đoàn thể cũng được kiện toàn, củng cố. Hội Phụ lão và Hội Nông dân cứu quốc, tuy thành lập sau nhưng đã tích cực hoạt động, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia công tác mạng.

Thực hiện nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ huyện Thọ Xuân lần thứ nhất (tháng 01-1948, tại thôn Tân An, Xuân Hòa) đề ra, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng các mặt công tác, xóa điểm trắng cơ sở Đảng, xã nào cũng có chi bộ Đảng lãnh đạo, phát triển đảng viên.

Thực hiện mệnh lệnh của cấp trên chi bộ đã đưa sự nghiệp cao cả của Đảng, từ 6 đảng viên ban đầu, đến năm 1949 đã có 45 đảng viên, xã Thọ Hải (xã Thọ Hải và Thọ Lâm ngày nay). Các đảng viên được phân công các cương vị chủ chốt trong chính quyền và các tổ chức đoàn thể từ xã xuống đến các làng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ, nhân dân trong xã tích cực tham gia kháng chiến kiến quốc, hoàn thành xuất sắc các phong trào cách mạng như: ủng hộ quỹ xây dựng Đảng, mua công phiếu kháng chiến, phong trào ủng hộ lúa khao quân...

Chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 đã mở ra một cục diện mới cho cách mạng Việt Nam. Thực dân Pháp không thực hiện được chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh“, buộc phải tiến hành bình định vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và đánh phá vùng tự do ác liệt hơn.

Tại tỉnh Thanh Hóa, từ tháng 7 đến tháng 8-1947, tàu chiến Pháp ngoài biển thả biệt kích vào cửa biển Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, đốt phá cướp đoạt tài sản của nhân dân. Máy bay địch ném bom xuống Vạn Hi (Thiệu Hóa), Bái Thượng (Thọ Xuân) và khu vực thị xã Thanh Hóa.

Ở miền Tây, đầu tháng 5-1947, giặc chiếm đóng Hồi Xuân (Quan Hóa). Ngày 7-5, địch chiếm đóng Cổ Lũng (Bá Thước), phía Tây Nam địch chiếm xã Yên Khương (Lang Chánh) và xã Bát Mọt huyện Thường Xuân, lập hành lang Đông - Tây, chia cắt miền Tây với đồng bằng Thanh Hóa, tổ chức các đảng phái phản động mưu đồ thành lập Xứ Mường tự trị.

Trung đoàn 77, bộ đội địa phương Thanh Hóa cùng hai đại đội cầm Bá Thước, Hà Văn Mao kết hợp với dân quân du kích các huyện miền núi tổ chức hàng chục trậr. đánh lớn nhỏ, tiêu hao nhiều sinh lực địch, thu nhiêu vũ khí quân trang, đập tan hành lang Đông - Tây, xoá sổ các tổ chức phản động tay sai của thực dân Pháp. Miền Tây Thanh Hóa được hoàn toàn giải phóng.

Cùng với chiến thắng miền Tây, lực lượng vũ trang các huyện ven biển đã đập tan nhiều toán biệt kích của địch, buộc chúng phải lên tầu chiến bỏ chạy. Tiêu diệt, bắt gọn các tổ chức phản động “Mặt trận quốc gia thống nhất”, “Mặt trận giải phóng dân tộc” ngăn chặn thời cuộc bạo loạn ở Mậu Thôn (Nông Cống), bắt hàng trăm tên.

Nhằm động viên nhân dân kháng chiến kiến quốc, ngày 14-7-1949, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh giảm tô 25%. Huyện ủy Thọ Xuân thành lập Ban chỉ đạo các cấp để thực hiện và thực hiện thí điểm ở ấp Hàn Thước có trên một trăm mẫu ruộng cấy lúa (phần lớn tá điền là người Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam). Giảm tô ở ấp Hàn Thước thắng lợi đã gây tiếng vang lớn, tạo điều kiện cho nông dân trong huyện đấu tranh buộc các chủ điền phải giảm tô 25%. Uy thế của địa chủ, cường hào trong xã bị hạ thấp. Nông dân phấn khởi tích cực tăng gia sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm cho kháng chiến.

2. Thọ Hải tăng cường tiêm lưc hậu phương, chi viện cho kháng chiên chống thưc dân pháp thăng lợi (1950-1954)

Năm 1950, tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng. Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, tạo điều kiện cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước khác, các tổ chức quốc tế lần lượt công nhận Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thắng lợi này đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta ngày một phát triển, thực dân Pháp ngày một bị động, lúng túng. Đế quốc Mỹ giúp Pháp can thiệp vào Đông Dương.

Nhằm kiểm soát khu vực biên giới, nối liền cách mạng Việt Nam với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta bước sang một giai đoạn mới, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới. Tháng 9 năm 1950, ta giải phóng Đông Khê. Tháng 10 năm 1950, ta bắt gọn địch ở Cao Bằng. Chiến dịch Biên giới thắng lợi mở ra bước ngoặt, đưa cuộc kháng chiến của ta từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy.

Để chi viện cho tiền tuyến, trong hai năm 1950 - 1951, xã Thọ Hải đã có hơn mười người vào bộ đội, trong đó có 5 người là đảng viên. Năm 1951-1952, phục vụ chiến dịch Quang Trung (mặt trận Hà - Nam - Ninh), xã Thọ Hải điều động nhiều đợt dân công phục vụ chiến dịch, trong đó có 150 người dân công dài hạn (từ 15 ngày đến một tháng), góp phần cùng dân công cả huyện vận chuyển 5.000 tấn thóc gạo ra Khu III (Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định).

Vsản xuất nông nghiệp: Mặc dù địa bàn xã rất rộng, cán bộ, đảng viên phân công nhau xuống từng xóm động viên nhân dân gieo trồng hết diện tích, chăm sóc hoa mầu... nhờ vậy hai vụ lúa chiêm mùa bội thu, nhân dân trong xã phấn khởi, đóng góp cho kháng chiến hàng chục tấn thóc, tấn thực phẩm.

Công tác giáo dục được chi bộ và chính quyền hết sức quan tâm. Xã đã có trường cấp I gồm 4 khối lớp, trường cấp II (tồn tại trong hai năm học 1950 - 1951 và 1951 - 1952). Công tác Bình dân học vụ vẫn được duy trì, đã có hai thôn Đăng Lâu và Quần Ngọc và hai xóm của làng Diên Hào xóa được nạn mù chữ.

Công tác thông tin tuyên truyền được chi bộ và chính quyền quan tâm. Mỗi xóm dựng một chòi cao để phát thanh vào hai buổi trưa và tối. Tuyên truyền đến nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, tin chiến thắng của quân và dân ta ở các mặt trận, công tác kháng chiến kiến quốc ở địa phương. Công tác an ninh trật tự được bảo đảm, nhất là việc phòng gian bảo mật. Duy trì các trạm gác trên các trục đường vào làng. Lực lượng dân quân du kích thường xuyên luyện tập sẵn sàng chiến đâu.

Công tác vệ sinh phòng bệnh, ăn chín uống sôi, giữ gìn vệ sinh làng xóm được nhân dân đồng tình ủng hộ. Nhà hộ sinh và mạng lưới tuyên truyền viên y tế xuống tận đến các xóm.

Vcông tác xây dựng Đảng, trong 3 năm 1949 - 1952, chi bộ Thọ Hải kết nạp được 37 đảng viên, đưa sổ đảng viên trong chi bộ lên 69 đồng chí (chưa kể các đảng viên lên đường nhập ngũ, các đảng viên trên điều đi thoát ly). Thời điểm này, đồng chí Lưu Đình Tình làm Bí thư Chi bộ.

Để tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến của dân tộc giành thắng lợi hoàn toàn, tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng họp tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ vào tình hình đặc điểm của mỗi nước, Đại hội quyết định chia Đảng Cộng sản Đông Dương thành ba đảng: Đảng Lao Động Việt Nam, Đảng nhân dân cách mạng Lào và Đảng nhân dân cách mạng Căm Pu Chia. Tháng 3 năm 1951, Huyện ủy Thọ Xuân chỉ đạo hợp nhất Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt thành Mặt trận Liên Viêt.

Tháng 3-1951, Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai. Huyện ủy Thọ Xuân tổ chức mít tinh chào mừng sự kiện trọng đại này và tuyên bố trước quốc dân đồng bào, sự lãnh đạo công khai, toàn diện và trực tiếp của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Thực hiện sắc lệnh thuế nông nghiệp của Chính phủ từ tháng 8 đến tháng 10-1951, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ Đảng, chính quyền xã Thọ Hải đã tổ chức cho nhân dân học tập chính sách thuế nông nghiệp, hoàn thành việc chia mảnh, định hạng, lập sổ bộ và tính thuế cho từng hộ nông dân, góp phần cùng cả huyện hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu thuế nông nghiệp năm 1951 - 1952. Thọ Xuân vinh dự được ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thanh Hóa tặng Bằng khen. Cùng với việc hoàn thành xuất sắc thuế nông nghiệp (thu đúng, thu đủ, thu nhanh), dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, chi bộ Đảng Thọ Hải tiến hành củng cố tổ chức, phát triển lực lượng quân sự theo hướng “tích cực chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công”.

Bị thất bại nặng nề trên các chiến trường, thực dân Pháp sử dụng máy bay ném bom, bắn phá vào hậu phương nhằm hủy diệt tiềm lực kháng chiến, lung lay ý chí chiến đấu của nhân dân ta thực dân Pháp đã ném bom xuống làng Trung Lập (Xuân Lập) làm chết 32 người, hàng trăm nóc nhà bị phã hủy; ném bom bắn phá xã Xuân Hòa làm chết 36 người,13 người bị thương , gần 100 ngôi nhà bị phá hủy. Máy bay Pháp ném bom xuống làng Hương (Thọ Hải) làm 2 cán bộ trại tù hy sinh và bắn phá xưởng in Trần Phú.

Năm 1952, máy bay Pháp ném bom đập Bái Thượng, làm hỏng nguồn nước tưới cho hơn 50 ngàn ha đất lúa 2 vụ của Thanh Hóa, đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, làm giảm sức chi viện cho chiến trường. Để khắc phục tình hình khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Chi bộ Đảng cùng chính quyền xã Thọ Hải đã huy động hàng ngàn ngày công đào đắp ao, hồ, đào giếng dự trữ nguồn nước cấy lúa, đồng thời chuyển chân đất hai vụ lúa sang một vụ màu, một vụ lúa; áp dụng biện pháp thâm canh để tăng năng suất, đáp ứng nhu cầu đảm bảo đời sống cho nhân dân và đóng góp cho kháng chiến.

Năm 1952, bọn phản động liên kết với nhau hòng phá hoại kinh tế. Một số tên lọt vào chính quyền các cấp, kích động nhân dân chống lại đường lối kháng chiến, chống lại chính sách thuế nông nghiệp, chính sách huy động dân công, giảm tô, giảm tức. Ở xã Thọ Hải chúng thành lập hai tổ chức phản động có tên là “Đại Việt” và “Bão An Đoàn”.

Tại địa phương, một số đảng viên Đảng Dân chủ và hội viên Phật giáo có nhiều ruộng đất liên kết với nhau, ngoan cố không nộp thuế nông nghiệp.

Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy Thanh Hóa và sự chỉ đạo của Huyện ủy Thọ Xuân, chi bộ và chính quyền xã Thọ Hải tổ chức cho nhân dân đấu tranh chính trị. Trước chính quyền cách mạng và áp lực của quần chúng nhân dân, bọn chống đối đã phải khuất phục nộp đầy đủ. Bọn phản động “Đại Việt”, “Bảo an Đoàn" và tổ chức “Liên tôn diệt cộng” đã bị chính quyền bắt, tòa án nhân dân tỉnh xử tù, một số tên được giáo dục tại địa phương.

Đấu tranh chính trị ở xã Thọ Hải thắng lợi đã thúc đẩy nhân dân trong xã hăng hái sản xuất, đóng góp tích cực sức người, sức của cho kháng chiến. Cuối năm 1952. Thọ Hải điều động 300 dân công hỏa tuyến, đợt dài 4 tháng, đợt ngắn 1 tháng, chuyển gạo phục vụ chiến dịch Thượng Lào.

Đầu năm 1953, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Huyện ủy, ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Thọ Xuân tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh giảm tô triệt để và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cải cách ruộng đất. Kết quả trong xã Thọ Hải có 102 hộ được giảm tô bằng 51.750kg thóc. Giảm tô thắng lợi uy tín và trình độ chính trị của nông dân được nâng lên, giai cấp địa chủ phong kiến bị đánh đô từng bước.

Ngày 19-12-1953, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ra hoạt động công khai, sau đó chi bộ Đảng Lao Động xã Thọ Hải tổ chức ra mắt hoạt động công khai trước toàn thể nhân dân trong xã. Đồng chí ... và đồng chí.. được chi bộ cử đại diện cho chi bộ ra mắt nhân dân toàn trong xã tại đình làng Hương Nhượng.

Cũng vào cuối năm 1953, kỷ niệm ngày toàn quốc kháng chiến, gần 100 thanh niên xã Thọ Hải vào lực lượng niên xung phong, thanh niên tình nguyện lên đường phục vụ tiền tuyến.

Vào thời điểm này, địa phương thiếu nguồn lao động sản xuất vì phần lớn nguồn lao động chính trong xã đã vào bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, khắc phục tình trạng thiếu lao động, chi bộ đã vận động nhân dân thực hiện mô hình tổ đổi công để giúp nhau gieo cấy, thu hoạch kịp thời vụ. Phát động nhân dân đưa cây khoai lang vào trồng trên đất một lúa; áp dụng phương pháp thâm canh tăng năng suất, ổn định đời sống nhân dân, hoàn thành các chỉ tiêu Nhà nước giao, góp phần cùng cả nước kháng chiến chống Pháp thắng lợi.

Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp dân tộc ta kéo dài 9 năm (1946 - 1954), trải qua các thời kỳ “cầm cự”, “phòng ngự” và “tổng tiến công” đã kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa "Chín năm là một Điện Biên nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng" Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ miền Nam tạm thời bị chia cắt, sau hai năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Trong kháng chiến chống Pháp, (tính thời kỳ xã lớn) xã Thọ Hải có 150 người vào bộ đội, thanh niên xung phong và phục vụ trên các lĩnh vực khác; 1.145 người là dân công hỏa tuyến; có ... thương binh,... liệt sỹ đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường; ủng hộ qũy độc lập hơn hai lạng vàng, 10kg bạc, 600kg đồng. 130.744 đồng (tiền tài chính Việt Nam).

Là một xã có hai tuyến giao thông thủy bộ đi qua: Quốc lộ 47, hai tuyến giao thông thủy là sông Chu và sông nông giang Bái Thượng, xã Thọ Hải được Nhà nước đặt nhiều kho tàng như kho lúa, kho muối...

Hưởng ứng phong trào huy động nhân tài, vật lực, phục vụ tiền tuyến của Đảng, nhân dân xã Thọ Hải đã dấy lên tinh thần thi đua sôi nổi, hăng hái làm nhiệm vụ dân công, vận tải, tăng gia sản xuất, tòng quân giết giặc. Vượt qua bao đèo cao, suối sâu rồi gió rét, mưa ngàn nhưng các đoàn dân công của Thọ Hải vẫn quyết tâm làm tròn nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc. Trên các bức tường, đình, đền, chùa, nhà dân... với khẩu hiệu và tin tức cổ động, phục vụ chiến trường được treo khắp nơi. Khí thế cách mạng sôi nổi, hào hùng chưa từng thấy đã diễn ra trên quê hương Thọ Hải. 

Ngày 13-3-1954, bộ đội ta bắt đầu nổ súng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm kiên cường chiến đấu, ngày 7-5-1954, quân và dân ta đã làm nên kỳ tích “chấn động địa cầu”, đánh tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nơi mà thực dân Pháp đã tuyên bố với cả thế giới là “pháo đài bất khả xâm phạm". Tin vui lan truyền trong cả nước và nhanh chóng tới các làng bản, chòm xóm trên địa bàn Thọ Hải, làm tăng thêm sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng. 

Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương được ký kết. Theo quy định của hiệp định, quân đội hai bên phải rút về vị trí tập kết ở hai miền Nam - Bắc. Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển mới của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Chính phủ Pháp phải thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. 

Trước tình hình thế giới và trong nước ngày càng có lợi cho cách mạng, phong trào cách mạng xã Thọ Hải có sự chuyển biến, đi vào chiều sâu và đạt kết quả rõ rệt. Đa số cán bộ, đảng viên đã tỏ rõ bản lĩnh của người cộng sản, quyết tâm bám đất, bám dân, vừa phát triển lực lượng, vừa đấu tranh với kẻ địch trên mọi lĩnh vực, đưa phong trào kháng chiến ở xã Thọ Hải từng bước phát triển và đạt được nhiều kết quả có ý nghĩa. 

Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, nhân dân Thọ Hải đã được sống tự do trong một nước độc lập, dưới chế độ dân chủ. Giữa những ngày giáp hạt, những lúc thiên tai tuy vẫn còn người đói tạm thời nhưng nhờ có Đảng, có chính quyền, đoàn thể và sự đùm bọc tương trợ lẫn nhau của mọi người nên đã nhanh chóng vượt qua khó khăn. Đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân so với trước cách mạng đã có sự chuyển biến nhảy vọt. Mọi người được học hành, được chữa bệnh, được tham gia các hoạt động văn hóa - xã hội. 

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, đầy gian khổ xã Thọ Hải có hàng trăm thanh niên lên đường nhập ngũ, hàng nghìn lượt người tham gia thanh niên xung phong và dân công phục vụ các chiến dịch Đông - Xuân năm 1953-1954 (chiến dịch Thượng Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ). Ngoài ra, trong khắp các làng Thọ Hải đều có thanh niên nam nữ tham gia vận chuyển, bốc dở hàng hóa, say lúa giã gạo, sửa chữa kho tàng, đường giao thông, nuôi dưỡng bộ đội. Hàng chục người con của Thọ Hải đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, Bằng khen, Giấy khen và nhiều danh hiệu cao quý khác. 

Từ kinh nghiệm thực tiễn cùng với những thành tích đã đạt được trong những năm tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp là nền móng quan trọng và vững chắc để Chi bộ Đảng Thọ Hải vững vàng bước vào thời kỳ cách mạng mới, thời kỳ cùng cả nước xây dựng, bảo vệ xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975). Đó là những kinh nghiệm thực tiễn vô cùng quý báu để nhân dân Thọ Hải bước vào gia đoạn mới, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và cùng nhân dân cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trong niềm vui miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, cán bộ, đảng viên và nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chuẩn bị tinh thần, nghị lực cho một mặt trận mới: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

II. ĐẢNG BỘ THỌ HẢI XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1954 - 1975)

1. Nhân dân Thọ Hải hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 - 1960)

Hoà bình lập lại, nhân dân Thọ Hải sống trong niềm vui thắng lợi của đất nước, quê hương đã tạo ra một khí thế mới để nhân dân tham gia vào các hoạt động xã hội nhân dân Thọ Hải với bản chất lao động cần cù, sáng tạo sẽ vượt qua những khó khăn, thử thách, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc, quê hương ngày càng giàu đẹp. 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hoá mà trực tiếp là Huyện ủy Thọ Xuân, cùng với nhân dân cả nước, Chi bộ và nhân dân xã Thọ Hải phấn khởi, hăng say bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới - thời kỳ khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa. 

Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ lớn trên, công việc đầu tiên của Chi bộ và nhân dân là xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền, Mặt trận và các tổ chức quần chúng. Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy Thọ Xuân, cùng với những hoạt động tích cực của các đồng chí cán bộ, đảng viên ở địa phương nên sau một thời gian ngắn, ủy ban hành chính xã được củng cố lại trên cơ sở sự tín nhiệm của nhân dân. Tiếp theo, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng như: Thanh niên, Phụ nữ... lần lượt được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới. Các đồng chí được bầu giữ những trách nhiệm lãnh đạo đều đã trải qua thử thách, có thành tích và uy tín trong quần chúng, được quần chúng ủng hộ. Từ đây, công việc của địa phương có ủy ban hành chính xã điều hành, có các tổ chức quần chúng làm nòng cốt để xây dựng phong trào. 

Vừa củng cố, xây dựng chính quyền, Chi bộ và nhân dân Thọ Hải vừa bắt tay vào ổn định đời sống, khôi phục và phát triển kinh tế ở địa phương. Đây là vấn đề trọng tâm, vừa hết sức cấp bách, lại vừa hết sức phức tạp, khó khăn. Nó là công việc hoàn toàn mới đối với hầu hết các đồng chí cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hơn nữa trong lúc giao thời này, tư tưởng quần chúng diễn biến rất phức tạp. Trong xã, số gia đình thiếu đói ngày càng tăng, đa số người đi dân công về lại bị sốt rét. Một số dịch bệnh ở địa phương có nguy cơ bùng phát. 

Bên cạnh những khó khăn thì thuận lợi vẫn là cơ bản, sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng được công khai và toàn diện, nhân dân xã Thọ Hải cùng với nhân dân miền Bắc hăng hái, bắt tay vào nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống, chung tay xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa... Ý thức được nhiệm vụ đó, Chi bộ, chính quyền và nhân dân xã tích cực thực hiện các kế hoạch để ổn định đời sống nhân dân như: Tập trung giải quyết nạn đói với phương châm “không để cho dân bị chết đói”. Các tổ chức đoàn thể đến các gia đình còn lương thực vận động xuất gạo cho những người thiếu đói vay. Với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, nhiều gia đình đã xuất hàng trăm ki lô gam gạo giúp đỡ người nghèo, san sẻ cho nhau từng củ khoai, cân sắn. Chính quyền đã nhanh chóng phân phát đến những gia đình khó khăn, giúp bà con trong cơn hoạn nạn. 

Đi đôi với các biện pháp trên, chính quyền vận động nhân dân khai hoang để sản xuất. Trên các cánh đồng cao, đồng bãi, gò, đồi, nhân dân tích cực trồng các loại rau màu ngắn ngày như: ngô, khoai lang, sắn, bầu bí, rau, đậu. Dưới ruộng sâu, nhân dân trồng rau muống. Nhiều gia đình còn trồng khoai trên các ụ đất trong vườn, trong sân nhằm tăng lượng rau màu để giải quyết cái ăn trước mắt. Chính vì vậy, nạn đói bước đầu được giải quyết, tạo điều kiện cho nhân dân yên tâm sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. 

Kinh tế được phục hồi, dần dần đi vào ổn định đã tạo điều kiện để các mặt văn hóa, giáo dục, y tế có bước phát triển mới. Ban Bình dân học vụ tiếp tục phát triển rộng rãi, tổ chức được nhiều lớp học ở khắp các thôn xóm. Hằng ngày, sau những buổi lao động cần mẫn trên đồng ruộng, hàng trăm học viên là phụ nữ, trung niên, thanh niên... tấp nập đến lớp để hoàn thành chương trình xóa nạn mù chữ.  

Công tác y tế được Chi ủy, chính quyền xã quan tâm chỉ đạo thực hiện. Xã đã cử người đi học ở các lớp đào tạo cán bộ y tế về chữa bệnh cho nhân dân. Các phong trào “ăn chín, uống sôi”, “sạch làng, tốt ruộng" phát động rộng rãi trong toàn xã đã được nhân dân nhiệt tình ủng hộ. Nhờ vậy, sức khỏe của nhân dân được đảm bảo, xã không để xảy ra những dịch bệnh lớn. 

Sau ngày hòa bình, ở Thọ Hải, các tệ nạn như rượu chè đình đám, ma chay, cưới hỏi theo hủ tục, các tệ nạn mê tín dị đoan vẫn đang còn phổ biến. Chi bộ đã chỉ đạo chính quyền cùng các tổ chức thanh niên, phụ nữ tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân để bài trừ các tệ nạn, xây dựng nếp sống văn hóa mới như tổ chức đám cưới theo nếp sống mới, không ăn uống linh đình trong ma chay, cưới hỏi. Phong trào văn hóa, văn nghệ phát triển mạnh trong các thôn xóm. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong xã từng bước được cải thiện rõ rệt. 

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam, Bắc. Từ vĩ tuyến 17 trở ra, đất nước hoàn toàn giải phóng, nhân dân miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Nam tạm thời còn chịu sự thống trị của Mỹ ngụy. Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước vẫn chưa hoàn thành. Nhân dân ta vừa phải lo hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, vừa phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Trong hoàn cảnh đó, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. 

Tại kỳ họp thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, Hội nghị hợp nhất toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã thông qua Cương lĩnh về vấn đề ruộng đất. Đặc biệt, ngày 04-12-1953, Quốc hội khóa I thông qua “Luật cải cách ruộng đất”. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách ruộng đất nhằm đánh đổ giai cấp bóc lột tạo điều kiện cho người nông dân có trâu, bò, có ruộng để sản xuất.  Tỉnh Thanh Hóa tiến hành cải cách ruộng đất 5 đợt, từ giữa năm 1953 đến giữa năm 1956. Huyện Thọ Xuân tiến hành cải cách ruộng đất (đợt 4) từ tháng 6-1955 đến tháng 8-1957. Trước đó, từ năm 1953 dưới sự chỉ đạo của Đảng đoàn giảm tô, nhân dân xã Thọ Hải đã tiến hành đấu tranh với địa chủ, đòi thực hiện giảm tô 25% cho người làm ruộng, đồng thời thu một phần ruộng đất về tay nông dân, cuộc đấu tranh diễn ra quyết liệt. Cuối cùng những điền chủ có nhiều ruộng đã phải thực hiện đúng chủ trương giảm tô của Chính phủ. 

Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên tháng 12-1955, chi bộ tiến hành Đại hội lần thứ II, nhiệm kỳ (1955-1956). Tại đại hội đồng chí Nguyễn Thị Ngan tiếp tục được bầu làm Bí thư Chi bộ xã Thọ Hải; đồng chí Nguyễn Duy Cống được bầu Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã. 

Từ thực tế địa phương và thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên Đại hội đã ra nghị quyết về tiến hành cải cách ruộng đất, một số gia đình có nhiều ruộng đã nhường ruộng cho người nghèo, hoặc bán đi lấy tiền ủng hộ kháng chiến. Trong cuộc đấu tranh này toàn xã đã thu được hàng trăm mẫu ruộng, vườn, hàng chục con trâu bò và nhiều nông cụ sản xuất. 

Thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất đã xoá bỏ hoàn toàn chế độ chiếm hữu ruộng đất của chế độ phong kiến, đưa nông dân từ thân phận người làm thuê thành chủ nhân của xã hội. Mục tiêu “người cày có ruộng" của Đại hội đã trở thành hiện thực trên đất Thọ Hải. 

Tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi có tính chiến lược đó, chúng ta đã phạm phải những khuyết điểm như: quy sai thành phần; không phân biệt địa chủ kháng chiến; mắc bệnh chủ nghĩa thành phần, nặng đấu tố, trừng phạt, nhẹ giáo dục; chủ yếu là tịch thu tài sản, ruộng đất, không trưng thu, trưng mua; tổ chức Đảng không được thực hiện đầy đủ quyền của mình, quyền dân chủ của nhân dân không được phát huy, việc phát triển Đảng không đảm bảo nguyên tắc. Thọ Hải thuộc vùng tự do trong kháng chiến, sau giảm tô thành phần giai cấp đã thay đổi đáng kể, nhưng khi tiến hành cải cách ruộng đất vẫn dập khuôn, máy móc. 

Những sai lầm trên đã ảnh hưởng đến kết quả của cải cách ruộng đất, giảm lòng tin của nhân dân vào đường lối của Đảng, tình hình tư tưởng lúc bấy giờ không ổn định, nội bộ nông dân căng thẳng giữa những người bị quy sai và cán bộ cốt cán, thành phần trong cải cách ruộng đất. 

Trước tình hình đó, ngày 18-8-1956, Hồ Chủ Tịch đã viết thư gửi đồng bào nêu rõ những thắng lợi của cải cách ruộng đất, đồng thời chỉ rõ những sai lầm cần khắc phục. Tháng 9-1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá II) đã đề ra nhiệm vụ và biện pháp kiên quyết sửa chữa sai lầm.

Xã Thọ Hải hình thành 4 làng: Làng Hương Nhượng, làng Bún, làng Hón, làng Rạch. Làng Hương có 4 xóm: Hương Cần, Hương Kiệm, Hương Liêm, Hương Chính. Làng Bún có 4 xóm: Phấn Trí, Phấn Đấu, Công Tâm, Công  Lý. Làng Hón có: Hải Mậu, Hải Khoát, Hải Giang, Hải Tân Ngoài ra có thêm xóm Hải Có. Làng Rạch đặt tên là Ngọc Thành. Năm 1956-1957 mỗi xóm thành lập 01 tổ  đổi công hỗ trợ nhau làm ăn trong nông nghiệp.

  Trước tình hình đó, Đảng ta khẳng định: Dân tộc Việt Nam đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng là: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong những năm trường kỳ kháng chiến, xã Thọ Hải là hậu phương vững chắc, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, cũng là địa phương bị máy bay thực dân Pháp bắn phá, ném bom làm thiệt hại người và của. Giờ đây hòa bình được lập lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chi bộ, chính quyền và nhân dân xã Thọ Hải đang phấn khởi tự hào, khẩn trương thực hiện Nghị quyết 6 vả 7 của Trung ương về việc hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, hàn gắn vết thương chiến tranh, nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, góp phần đấu tranh thống nhất đất nước.

Để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa xã hội trong thời kỳ mới, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy và Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Thọ Xuân, xã lớn Thọ Sơn được chia làm 3 xã: Thọ Diên, Thọ Lâm và xã Thọ Hải. Xã Thọ Hải mới gồm 7 làng Hương, làng Bún, làng Hóa, làng Rạch, làng Công Thành với số dân khoảng hơn 2 ngàn người. Tổ chức Đảng cũng được chia làm 3 chi bộ. Chi bộ Đảng xã Thọ Hải có 48 đảng viên do đồng chí Lê Xuân Vy được bầu làm Bí thư, đồng chí Đinh Văn Lưu được bầu làm Phó Bí thư - Chủ tịch; đồng chí Nguyễn Công Chức làm được phân công  trực Đảng.

Giữa lúc nhân dân Thọ Xuân nói chung, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thọ Hải nói riêng đang hăng hái hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế thì tại miền Tây Thanh Hóa, máy bay địch tiếp tế lương thực thực phẩm, vũ khí, quân trang quân dụng cho bọn biệt kích ở Tam Chung, Quang Chiểu (Quan Hóa). Chúng tuyên truyền xuyên tạc với các luận điệu “Đầu năm hòa cuối năm chiến tranh”, “Chế độ miền Bắc sưu cao nặng”... lung lạc hăm dọa, dụ dỗ đồng bào dân tộc di cư sang Lào, phá hoại tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào.

Ở Thọ Xuân, một số vùng có đồng bào theo đạo Thiên Chúa, bọn gián điệp do địch cài cắm lại, chúng dựa vào Điều 14D của Hiệp định Giơ-ne-vơ tung ra những luận điệu “Miền Bắc sẽ chết đói”, “Miền Bắc không được tự do tín ngưỡng”, “Chúa đã vào Nam”, “Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống miền Bắc”. Bằng những thủ đoạn lừa gạt, cưỡng bức tàn bạo của địch, hàng ngàn giáo dân nhẹ dạ, cả tin bỏ quê hương, nhà cửa ruộng vườn, tài sản di cư vào Nam, ở huyện Nga Sơn, Tĩnh Gia, bọn phản động lợi dụng tôn giáo, tập hợp bọn côn đồ vu cáo chính quyền cách mạng. Ở các huyện Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thọ Xuân địch lợi dụng vào nhà thờ tuyên truyền kích động, tổ chức cho giáo dân di cư vào Nam.

Cùng với những khó khăn do địch gây ra, tháng 9-1954 mưa lớn kéo dài, nước từ thượng nguồn đổ về dữ dội. Mức nước sông Chu, sông Mã dâng cao, các tuyến đê bị vỡ nhiều đoạn, hàng chục ngàn ha lúa và hoa màu đến ngày thu hoạch bị mất trắng.

Tại huyện Thọ Xuân, đê sông Chu phía hữu ngạn vỡ tại Liên Phô (Thọ Nguyên); đê tả ngạn vỡ tại Căng Hạ (Thọ Trường). Các xã Thọ Tân, Thọ Thế, Thọ Dân, Thọ Cường, Xuân Thịnh, Xuân Lộc...có nơi nước ngập lên đến nóc nhà. Nước rút chậm, bệnh tật phát sinh, nạn đói diễn ra gay gắt.

Vùng tả ngạn, vỡ đê Thọ Trường cùng với nước sông Cầu Chày dâng cao, các xã Xuân Tín, Phú Yên, Xuân Minh, Xuân Tân, Xuân Vinh, Thọ Trường đều bị ngập lụt nặng, hàng ngàn ha lúa và màu đã đến ngày thu hoạch bị mất trắng.

Tại Thọ Hải, một số làng như: Làng Hương, làng Bún, làng Hón, làng Rạch, Công Thành, Mậu Công nhà cửa bị ngập đổ. Chính quyền xã huy động dân quân, du kích dùng thuyền nan, máng hỗ trợ nhân dân từ nơi nguy hiểm vào nơi an toàn, bảo vệ an toàn tài sản cho nhân dân. Với những kinh nghiệm sống ở vùng lũ cùng với sự chỉ đạo sát của chi bộ, chính quyền đã hạn chế được những khó khăn do lũ lụt gây ra.

Lũ lụt, vỡ đê cuối năm 1954, đã làm 36.000 ha lúa và màu của Thanh Hóa bị mất trắng. Đầu năm 1955, nạn đói diễn ra nghiêm trọng trên địa bàn toàn tỉnh. Ở huyện Thọ Xuân nhiều gia đình mất bữa, lác đác ở các làng đã có người chết đói. Trước tình hình nạn đói diễn ra nghiêm trọng kéo dài, Huyện ủy Thọ Xuân chỉ đạo thành lập “Ban cứu đói” từ huyện xuống đến xã, do đồng chí Chủ tịch làm Trưởng ban, trước hết vận động nhân dân với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau. Mặt khác kêu gọi nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, trồng cây rau màu ngắn ngày để chống đói. Với sự đoàn kết nỗ lực chống đói của cả huyện, lại được Nhà nước hỗ trợ ba đợt cứu tế gạo, nạn đói đầu năm 1955 được đẩy lùi, đời sống nhân dân trở lại bình thường và ổn định.

Thực hiện chỉ thị của liên khu ủy IV và chỉ thị của Tỉnh ủy, Huyện ủy, Ủy ban Hành chính huyện Thọ Xuân cử cán bộ, Huyện ủy viên, cán bộ dân vận về các vùng giáo dân bám sát từng gia đình, ngõ xóm vận động quần chúng không mắc mưu địch. Với tinh thần Chúa ở khắp mọi nơi, Chúa ở mọi nhà, Chúa ở trong lòng chúng ta, chỉ cần kính Chúa yêu nước, đồng bào không di cư ở lại làm ăn sinh sống. Vận động nhân dân đập tan mọi âm mưu của địch, tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.

Thực hiện chủ trương của Huyện ủy, chi bộ Đảng, chính quyền xã Thọ Hải đã tổ chức cho nhân dân học tập chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; kêu gọi nhân dân đoàn kết lương - giáo, chống di dân vào Nam, vạch trần âm mưu thủ đoạn của địch. Qua kiểm tại các xã có giáo dân, tình hình chính trị trên địa bàn huyện Thọ Xuân trở lại ổn định.

Sau hòa bình lập lại, nhằm nhanh chóng phục hồi kinh tế, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo Ủy ban hành chính tỉnh lập kế hoạch tu sửa đập Bái Thượng, được Chính phủ đồng ý. Ngày 01-9-1954, việc tu tạo đập Bái Thượng và hệ thống nông giang sông Chu được tiến hành. Tham gia công trường có 22 ngàn dân công, một trung đội bộ đội, 700 công nhân kỹ thuật. Huyện Thọ Xuân đóng góp 5.000 dân công. Xã Thọ Hải có 100 dân công lên công trường. Sau ba tháng khẩn trương thi công nước từ đập Bái Thượng đã chảy về nông giang tưới cho 50.000 ha lúa chiêm xuân của 6 huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Nông cống và Quảng Xương (huyện Triệu Sơn được tách ra từ Thọ Xuân, Nông Cống năm 1964), trong đó có 190 ha đất cấy lúa 2 vụ ở Thọ Hải.

Trong hai năm 1955 - 1956, dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng, chính quyền, nhân dân Thọ Hải đã khai hoang, phục hóa được gần 10 ha để sản xuất lúa màu.

Đầu năm 1955, được sự giúp đỡ của Trung ương, Thanh Hóa nâng cấp, mở một số tuyến đường lên miền Tây. Hàng trăm dân công của xã Thọ Hải làm đường Mục Sơn - Vạn Mai, Bái Thượng - Cửa Đạt, đường 217A. Chi bộ cũng tiếp tục hoàn thành triệt để dân chủ, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, thi hành luật cải cách ruộng đất của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban bố ngày 4-12-1953.

Cải cách ruộng đất ở huyện Thọ Xuân được tiến hành làm 2 đợt. Đợt đầu làm thí điểm 7 xã (Xuân Tân, Xuân Vinh, Thọ Trường (vùng tả ngạn sông Chu), Thọ Nguyên, Xuân Khánh, Xuân Phong, Thọ Lộc (hữu ngạn sông Chu). Đợt 2 tiến hành ở các xã còn lại. Xã Thọ Hải tiến hành cải cách ruộng đất vào đợt 2.

Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy về cải cách ruộng đất. Các đội Cải cách ruộng đất về xã Thọ Hải xuống các làng cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nông dân. Ôn nghèo kể khổ,bám rễ, xâu chuỗi, phát động nhân dân đấu tranh với cường hào địa chủ. Với phương châm dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, liên kết với phú nông, đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến. Tịch thu, trưng thu, trưng mua nhà cửa, ruộng đất, tài sản của địa chủ chia cho nông dân.

Sau một thời gian đấu tranh, xã Thọ Hải có 12 địa chủ, tịch thu 300 mẫu ruộng, 12 căn nhà ngói, 21 con trâu bò và hàng trăm công cụ sản xuất, đồ dùng trong nhà chia cho dân nghèo.

Cải cách ruộng đất thắng lợi đã xoá bỏ triệt để quan hệ sản xuất phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất đem lại quyền lợi cho nông dân lao động, mở đường cho sản xuất nông nghiệp phát triển. Nhưng Cải cách ruộng đất kết hợp với chỉnh đốn tổ chức đã phạm những sai lầm nghiêm trọng. Do quy định 5% tổng số dân nông nghiệp là địa chủ, nên hàng loạt gia đình không đủ tiêu chuẩn bị quy lên địa chủ. Nhiều gia đình cán bộ, đảng viên, gia đình có công với cách mạng bị quy địa chủ, tình nghi phản động, bị khai trừ, tù đầy.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã kịp thời phát hiện ra sai lầm trong cải cách ruộng đất và đề ra chính sách sửa sai. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Huyện ủy Thọ Xuân, Chi bộ Đảng Thọ Hải tổ chức cho nhân dân học tập Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, thực hiện cuộc vận động sửa sai trong Cải cách ruộng đất công tác sửa sai được tiến hành khẩn trương và triệt để. Các gia đình oan sai được trả lại thành phần, ruộng vườn, nhà cửa, tài sản, những cán bộ, đảng viên bị quy sai được trả chức vụ, đảng tịch. Nhờ vậy khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, an ninh chính trị xã hội trong toàn xã nhanh chóng được ổn định.

Sau sửa sai trong cải cách ruộng đất, chi bộ Đảng, chính quyền Thọ Hải được kiện toàn củng cố. Các đồng chí ủy viên chấp hành gồm Phạm Đình Tơn, Ngô Đình Cẩn, Lê Công Sang và Lê Công Vang. Đồng chí Phạm Đình Tơn làm Bí thư Chi bộ; đồng chí Ngô Đinh Cẩn là Phó bí thư phụ trách chính quyền; đồng Lê Văn Ninh - trưởng Công an, Hoàng Đình Hào - xã đội trưởng, Nguyễn Văn Ninh - Bí thư Chi đoàn; Mai Thị Thủy - Hội trưởng Phụ nữ xã; Đỗ Viết Sinh - phụ trách Nông hội (hội Nông dân ngày nay), Nguyễn Mậu Mưu - Chủ tịch Hội Liên Việt (Mặt trận Tổ quốc ngày nay). Các tổ chức đoàn thể hoạt động có nhiêu hiệu quả, nhờ thế sản xuất nông nghiệp được phát huy. Cho đến cuối năm 1958, xã Thọ Hải có 21 tổ đổi công với 420 hộ tham gia. Phong trào tổ đổi công phát triển giúp nhau ngày công, sức kéo trâu bò, giống gieo trồng, sản xuất và thu hoạch đúng thời vụ, đồng thời bước đầu đưa nông dân làm quen với đường lối làm ăn tập thể.

Công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế trên địa bàn xã Thọ Hải thu được thắng lợi, đời sống nhân dân được nâng lên. Chi bộ Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân trong xã thực hiện nhiệm vụ quan trọng mà Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V (tháng 5-1958) là: “Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp và thủ công nghiệp, đưa nông dân từ làm ăn riêng lẻ đi dần vào tổ đổi công, rồi tiến lên hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp, tiến lên hợp tác xã nông nghiệp bậc cao. Hợp tác hóa phải gắn liền với cơ giới hóa, thủy lợi hóa”...

Để tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, Tỉnh ủy chỉ đạo xây dựng thí điểm hợp tác xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn và Đông Phương Hồng Thọ Xuân và một số nơi khác nhằm rút kinh nghiệm.

Thanh Hóa là một tỉnh lớn, có 3 vùng kinh tế khác biệt, nông dân ở mỗi vùng trình độ, phong tục, cách thức sản xuất và trình độ thâm canh khác nhau, vì vậy Tỉnh ủy chủ trương: tiến hành từ thấp đến cao, tiến từng bước vững chắc, bảo đảm nguyên tắc: tự nguyện dân chủ, cùng có lợi. Ở miền núi kết hợp cải cách dân chủ với xây dựng hợp tác xã, ở vùng biển xây dựng các tập đoàn đánh cá, các hợp tác xã nông - ngư, nông - diêm kết hợp.

Thời gian đầu ban vận động xây dựng hợp tác xã, vận động từ gia đình gia nhập hợp tác xã, sau đó nông dân tự nguyện làm đơn xin vào hợp tác xã.

Theo kế hoạch, những tháng đầu năm 1958 toàn tỉnh chỉ xây dựng 177 hợp tác xã bậc thấp, quy mô xóm nhưng cuối năm đã xây dựng được 1.293 hợp tác xã, chiếm tỷ lệ 11,5% số hộ nông dân trong tỉnh.

Cuối năm 1958, Trung ương Đảng tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm về xây dựng hợp tác xã ở Thanh Hóa. Đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng đã chủ trì hội nghị.

Trên cơ sở những quan điểm của Trung ương kết luận, năm 1959 Thanh Hóa đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa. Ở miền xuôi 60,2% số hộ nông dân vào hợp tác xã, ở miền núi kết hợp với cải cách dân chủ với xây dựng HTX đã có 89% số nông dân vào hợp tác xã. Năm 1960, toàn tỉnh đã có 91,5% số hộ nông dân vào hợp tác xã và đã xây dựng được 4.930 hợp tác xã bậc thấp. Nhiều hợp tác xã đã có năng suất từ 2,5 đến 3 tấn thóc trên một ha gieo trồng. Phong trào làm thủy lợi, làm phân bón và cải tiến công cụ sản xuất được đẩy mạnh. Trên cơ sở đó, ngày 13/3/1961 Tỉnh ủy quyết định xây dựng hợp tác xã bậc cao c